PHÂN BIỆT DANH TỪ VÀ ĐẠI TỪ

Phan biet danh tu va dai tu

Phân biệt danh từ và đại từ dựa vào tình huống giao tiếp

Tình huống: Trong Tiếng Việt, nhiều danh từ được dùng làm đại từ xưng hô. Vậy làm thế nào để phân biệt danh từ và đại từ?

Dưới đây là một đoạn trích truyện Dế Mèn phiêu lưu kí của nhà văn Tô Hoài để làm ví dụ:

“Bởi i ăn uống điều độ và làm việc có chừng mực nên tôi chóng lớn lắm. Chẳng bao lâu, tôi đã trở thành một chàng dế thanh niên cường tráng. Đôi càng tôi mẫm bóng. Những cái vuốt ở chân, ở khoeo cứ cứng dần và nhọn hoắt…”

Từ “tôi” trong đoạn văn trên là đại từ hay là danh từ? Có người cho rằng Tôi là đại từ, có người lại cho rằng Tôi  là danh từ chỉ người kể chuyện. (Ví dụ: Cháu chào bác- từ bác là danh từ). Chúng ta cùng tìm hiểu vấn đề:

  1. Danh từ

Theo định nghĩa của SGK Ngữ văn 6 – NXB Giáo dục Việt Nam do Nguyễn Khắc Phi tổng chủ biên, Danh từ là những từ chỉ người, vật, hiện tượng, khái niệm…Danh từ có thể kết hợp với từ chỉ số lượng ở phía trước, các từ này, ấy, đó, ở phía sau và một số từ ngữ khác để lập thành cụm danh từ. (Sách đã dẫn- trang 87).

Theo Từ điển Tiếng Việt: của Viện Ngôn ngữ học, do Hoàng Phê chủ biên: Danh từ 1. Từ chuyên biểu thị ý nghĩa sự vật, đối tượng, thường làm chủ ngữ trong câu. “người”, “nhà”, “tinh thần”,  “Việt Nam” là những danh từ. 2. Từ hoặc tổ hợp từ chuyên dùng để gọi tên sự vật hoặc biểu đạt khái niệm thường trong lĩnh vực chuyên môn. (Sách đã dẫn- trang 242).

  1. Đại từ

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, đại từ hay còn gọi là đại danh từ là một dạng thay thế cho một danh từ (hoặc danh ngữ) có hoặc không có từ hạn định. Ví dụ youthey trong tiếng Anh.

Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do Hoàng Phê chủ biên: Đại từ: Từ dùng để chỉ một đối tượng, một điều đã được nói đến, hay là một đối tượng, một điều nào đó trong hoàn cảnh nói năng nhất định. “Tôi”, “nó”, “đây”, “ấy”, “gì”, đều là đại từ. (Sách đã dẫn- trang 281).

Kết luận về việc phân biệt danh từ và đại từ

Từ “tôi” trong trường hợp trên là đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất. “Tôi” không thể là danh từ, chỉ người kể chuyện.

Trong câu “Cháu chào bác”, từ “bác” là đại từ ngôi thứ hai- người đang đối thoại với mình. Từ “bác” ở đây hoàn toàn mang tư cách đại từ. Chỉ có điều, từ “bác” vốn có gốc là danh từ. Người Việt Nam chúng ta khi xưng hô vẫn thường dùng các danh từ chỉ quan hệ thân tộc (ông, bà, anh, chị, chú, thím,…) vào vai trò đại từ. Vậy nên vẫn có người không coi đây là đại từ một cách “chính danh”. Có người thận trọng thì sau khi xếp những từ đó vào đại từ rồi thì chú thích: danh từ chỉ quan hệ thân tộc được dùng như đại từ. Chúng ta cần nhìn vào bản chất để khái quát cho chính xác. Các từ ông, bà, bác, bá, chú, thím, anh, chị… khi dùng để xưng hô thì nó hoàn toàn mang từ cách đại từ và nó phải được xếp vào hàng của đại từ. 

Tóm lại, khi cần phân biệt đại từ, cụ thể, loại đại từ vốn là danh từ chỉ quan hệ thân tộc, về nguyên tắc, hễ dùng để xưng hô thì nó nghiễm nhiên là đại từ. Các từ chỉ thân tộc, một số từ chỉ các quan hệ khác hoặc chỉ các chức danh, khi dùng để xưng hô thì cũng là đại từ: giáo sư, thủ tướng, bộ trưởng, bác sĩ, nhà giáo, thầy, cô,… Và chỉ khi dùng để xưng hô thôi, nếu không nó lại là danh từ.

 Ví dụ: (1). (Phóng viên): Thưa thầy, thầy đánh giá như thế nào về giáo dục Việt Nam hiện nay? (thầy là đại từ). 

(2). Trường em vừa có thêm hai thầy dạy Toán (thầy là danh từ).

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *