HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT ĐƯỢC SINH RA TỪ TÂM TRÍ CỦA NHÀ VĂN NHƯNG CHỈ THỰC SỰ SỐNG BẰNG TÂM TRÍ CỦA NGƯỜI ĐỌC

Hinh tuong nhan vat duoc sinh ra tu tam tri cua nha van nhung chi thuc su song bang tam tri cua nguoi doc

Văn học nói bằng hình tượng, hình tượng nghệ thuật là khối pha lê lấp lánh làm nên giá trị tác phẩm văn học. Nếu cái thần của âm nhạc là giai điệu, của hội họa là đường nét và màu sắc thì cái thần của văn chương chính là ở hình tượng nhân vật. Song những tác phẩm văn học chỉ xây dựng nên những hình tượng về con người thì đó chưa hẳn là một tác phẩm vô giá. Bởi trong sáng tạo nghệ thuật, điều quan trọng, đặc sắc nhất nhiều khi không phải ỏ hình tượng con người mà ở hình tượng nhân vật. Chính vì vậy, có ý kiến cho rằng: “Hình tượng nhân vật được sinh ra từ tâm trí của nhà văn nhưng chỉ thực sự sống bằng tâm trí của người đọc”.

“Nhà thơ tư duy bằng hình tượng” (Biêlinxki). Văn học ở bất kì thời đại nào muốn phản ánh hiện thực đời sống đều phải thông qua các hình tượng nhân vật điển hình. Nhà thơ tư duy bằng hình tượng, nhà văn cũng tư duy bằng hình tượng. Thế giới thêm sắc màu, cuộc sống thêm âm điệu bởi những hình tượng nhân vật điển hình độc đáo.

“Văn học và đời sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm của nó chính là con người” (Nguyễn Minh Châu). Văn học phản ánh cuộc sống và trung tâm là con người thông qua hình tượng nhân vật. Chính những hình tượng nghệ thuật độc đáo, có sức phổ quát, mang những ý nghĩa sâu sắc về nhân sinh đã góp phần làm nên nét riêng cho tác phẩm văn học. Người nghệ sĩ thường sáng tạo nên những tượng đài bất hủ về con người bằng cách xây dựng chính hình tượng nhân vật.

Nghệ thuật đồng nghĩa với sáng tạo. Nghệ sĩ là kẻ làm công việc “khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” (Nam Cao). Viết văn là một quá trình khai phá những vỉa quặng của cuộc đời nhưng mỗi thứ kim loại quý hiếm nhà văn tìm thấy lại lấp lánh một sắc màu riêng biệt. Có phải đó là sắc màu của những hình tượng nhân vật điển hình được nhà văn nhặt nhạnh ở cuộc đời, nhào nặn trong tư tưởng và đưa vào tác phẩm dưới lớp áo chủ quan độc đáo? Ngay từ khi ra đời, văn học đã nhận thức đời sống và thể hiện tư tưởng, tình cảm bằng các hình tượng nghệ thuật. Từ tiếng gọi chú tiểu lẳng lơ nhưng đầy khao khát yêu đương của Thị Màu trên chiếu chèo ngày xưa đến đoạn trường mười lăm năm lưu lạc của Thúy Kiều trong thơ Nguyễn Du, hình tượng nhân vật điển hình đã thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt các tác phẩm văn học, bắc nhịp cầu giữa hiện thực xã hội và tư tưởng nhân vật để khái quát hiện thực, để cắt nghĩa đời sống và thể hiện tư tưởng của chính mình. Vì vậy, hiện thực trong tác phẩm mang đậm dấu ấn chủ quan của người nghệ sĩ. Nhà văn là chủ thể sáng tạo, là kẻ chi phối mọi tư tưởng thẩm mĩ, góc nhìn, phạm vi của hiện thực nên dù được bắt nguồn từ cuộc sống, dù được nuôi dưỡng bằng bầu sữa của bà mẹ cuộc đời thì tác phẩm văn chương, qua các hình tượng nhân vật, phản ánh hiện thực “được sinh ra từ tâm trí của nhà văn”. Tác phẩm văn chương không bao giờ là bản sao của hiện thực mà hiện thực được soi chiếu vào tác phẩm bằng lăng kính chủ quan của người viết, có thể tốt, có thể xấu, có thể đáng vui và cũng có thể đáng buồn. Hiện thực cuộc sống được khoác lên tấm áo nhiều màu như vậy chính là bởi hình tượng nhân vật được nhà văn đưa vào tác phẩm. Hình tượng nhân vật là đứa con của hiện thực cuộc sống nhưng lại được nuôi dưỡng bằng tình cảm, tư tưởng của nhà văn. Nó cũng là cuộc đời riêng, nhưng đồng thời cũng là cái loa phát ngôn của người nghệ sĩ. Trong bản thân hình tượng bao giờ cũng có sự thống nhất sinh động giữa các mặt cá biệt và khái quát, lí trí và cảm xúc, chủ quan và khách quan. Hình tượng càng độc đáo, được nâng lên mức điển hình thì hiện thực càng được phản ánh ở những góc cạnh sâu xa nhất, hướng tới một giá trị thẩm mĩ riêng – “chỉ thực sự sống bằng tâm trí của người đọc”. Điều đó làm nên “ánh sáng riêng mãnh liệt” cho hình tượng nhân vật. Đến với hình tượng nhân vật là đến với một thế giới hiện thực riêng biệt được xây dựng ngay trên nền thế giới hiện thực đương thời.Hình tượng nhân vật tỏa sáng của lí tưởng thẩm mĩ lên trên hiện thực bề bộn, để cho người đọc có một cái nhìn mới mẻ, chân thực và sâu sắc hơn về cuộc đời. Lời nhận định đã khẳng định tầm quan trọng và giá trị biểu hiện của hình tượng nhân vật trong tác phẩm. Đó cũng là cơ sở để đánh giá tư tưởng nhà văn và giá trị của toàn bộ tác phẩm.

“Hình tượng nhân vật được sinh ra từ tâm lí của nhà văn nhưng chỉ thực sự sống bằng tâm trí của người đọc”. Nhà văn lấy tư liệu từ hiện thực để xây dựng nên hình tượng điển hình và đặt vào đó tư tưởng thẩm mĩ của mình. Tôi nhớ câu chuyện thần thoại xa xưa, thần Trụ Trời đã lấy đất sét nặn ra con người và thổi hơi thở của mình vào những hình tượng vô tri để cho con người sự sống. Nhà văn phải chăng cũng là người thổi linh hồn mình vào trong hình tượng nhân vật để dù mang những phẩm chất đặc trưng, phổ quát của thế giới hiện thực, nó vẫn có một sức sống riêng, một cuộc đời cá biệt trong “tâm trí của người đọc”. Không phải ngẫu nhiên mà nhân vật trung tâm trong các tác phẩm của chủ nghĩa hiện thực là những kẻ đại diện cho bọn thống trị như Nghị Hách, Nghị Quế, bá Kiến… hay những nạn nhân của xã hội cũ như anh Pha, chị Dậu, lão Hạc, Mị… Hiệu quả cao nhất mà những điển hình đó đạt được là bóc trần sự mục nát của xã hội thực dân phong kiến với một thái độ phủ nhận và phê phán mạnh mẽ. Nhưng độc đáo hơn, lần đầu tiên người ta biết đến một cách trị người tàn ác và mưu mô như của bá Kiến, con đường leo lên xã hội thượng lưu nhơ bẩn và lố bịch như của Xuân Tóc Đỏ. Những hình tượng điển hình ấy không bao giờ chỉ đơn thuần là một bức tranh nhân sinh mà bao giờ cũng gửi đến người đọc một thông điệp, một triết lí sâu xa.

Biêlinxki từng phân biệt: “Nhà triết học nói bằng phép tam đoạn luận, nhà văn nói bằng các hình tượng và bức tranh”. Dù đều đi từ cái riêng đến cái chung để khám phá cuộc sống con người, khám phá bản chất của thực tại nhưng trong quá trình nghiên cứu, trong khi các nhà triết học, khoa học gạt bỏ những chi tiết cá biệt, những yếu tố ngẫu nhiên để tìm ra cái chung, để khẳng định yếu tố khách quan, chân lí thì trong nghệ thuật lại in đậm dấu ấn chủ quan, cái chung được biểu hiện trong cái riêng, cái riêng để khái quát cái chung. Hình tượng nhân vật ra đời nhằm mục đích đó. Chí Phèo, Thị Nở từ văn chương đã bước ra cuộc đời, trở thành những cái tên như minh chứng tiêu biểu cho tính cách điển hình của hình tượng nhân vật. Ta thấy trong cuộc đời nhọc nhằn của anh Pha, chị Dậu… dáng dấp ông cha, những người cả đời gắn bó với ruộng đồng và chịu biết bao nhiêu áp bức. Đó chính là sự :sinh ra từ tâm trí của nhà văn”. Nhưng không bao giờ những Chí Phèo, chị Dậu ấy là bản thân cuộc đời thực. Văn học chỉ có một Chí Phèo với bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người trong khi cuộc đời có cả ngàn thằng Chí Phèo uống rượu say rồi chửi bới. Văn học chỉ có một Hăm-lét với niềm trăn trở, day dứt vì lí tưởng “sống hay không sống” trong khi lịch sử có biết bao nhiêu âm mưu “chiếm ngôi vua, đoạt quyền chúa”. Không bao giờ người ta quên được tiếng nói khắc khoải của Chí Phèo: “Tao muốn làm người lương thiện. Ai cho tao lương thiện? Làm sao xóa được những vết sẹo trên mặt này?” Không chỉ bởi một hiện thực khốc liệt của xã hội phong kiến dồn đuổi con người vào bước đường cùng mà, sâu sắc hơn cả, người ta nhận ra trong đó một khát vọng sống mạnh mẽ, cháy bỏng, một ước muốn lương thiện giản dị mà cao đẹp của một tâm hồn tội lỗi. Lần đầu tiên người ta nhận ra ánh sáng của lương tri, ánh sáng của tính người tỏa ra từ thân xác của con quỷ dữ. Đó chính là “ánh sáng riêng” của hình tượng Chí Phèo “chỉ thực sự sống bằng tâm trí của người đọc”.

Kinh Thư xưa có câu: “Thẩm sở mộng chi nhân, khắc kì hình tượng, dĩ tứ phương băng cửu chi ư dân gian” (Xem xét người thấy trong mộng, khắc lấy hình tượng của người ấy để đi tìm khắp bốn phương trong dân gian). Hình tượng nhân vật bao giờ cũng là “con người của dân gian”. Nó được thoát thai từ hiện thực đời sống và mang những tính cách cơ bản nhất, bản chất nhất và nổi bật nhất của đời sống xã hội. Nguyễn Du từ bao nhiêu cuộc đời long đọng, lận đận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến đã xây dựng lên hình tượng Thúy Kiều với tất cả nỗi đau khổ của loài người đúc kết lại:

Đau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Trong cuộc đời mười lăm năm lưu lạc của Kiều có những “vết xe đổ” của Đạm Tiên, của Tiểu Thanh, của người con gái đất Long Thành cùng biết bao nỗi đau khổ khác của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Có thể nói, cuộc đời Thúy Kiều là một bức tranh toàn cảnh và sinh động về nỗi đoạn trường của người phụ nữ dưới xã hội hà khắc, nặng nề, tàn ác và thối nát của thời đại cũ. Hiện thực trong Truyện Kiều được tái hiện qua tâm trí của Nguyễn Du. Người đọc như được cùng nàng Kiều trải qua biết bao thăng trầm, tận mắt chứng kiến và thấu hiểu muôn vàn nỗi khổ đau của kiếp người. Nhưng Kiều không chỉ là đại diện cho một lớp người, cuộc đời Kiều không đơn thuần chỉ là một bức tranh hiện thực rộng lớn và Nguyễn Du không chỉ là ngòi bút hiện thực chủ nghĩa một chiều. Kiều được ca tụng là người phụ nữ đẹp nhất của văn học Việt Nam bởi những nét đẹp riêng biệt, độc đáo, chỉ tài năng Nguyễn Du mới có thể sáng tạo nên: 

Làn thu thủy, nét xuân sơn

Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh

Một hai nghiêng nước nghiêng thành

Sắc đành đòi một, tài đành họa hai.

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Vẻ đẹp khiến cho trời đất phải ghen tức, vẻ đẹp làm thiên nhiên đảo lộn, có lẽ trong cả nền văn học Việt Nam, người ta chỉ tìm thấy mình Kiều. Kiều “sống trong tâm trí người đọc” không chỉ bởi nét riêng biệt “hơn người” ấy mà còn bởi tấm lòng cao cả của Nguyễn Du được soi rọi trong những câu thơ đẹp nhất dùng để ca ngợi sắc đẹp người con gái tài hoa.

Cũng trong Truyện Kiều, bên cạnh nhân vật điển hình Thúy Kiều, Kim Trọng, Từ Hải thì Mã Giám Sinh cũng là một nhân vật điển hình có “ánh sáng riêng”. Ở hình tượng này, người đọc nhận ra một cách rõ ràng hiện thực biểu hiện cụ thể, sinh động như có thực:

Hỏi tên, rằng: “Mã Giám Sinh”

Hỏi quê, rằng: “Huyện Lâm Thanh cũng gần”

…Ghế trên ngồi tót sỗ sàng

…Cò kè bớt một thêm hai.

“Nghệ thuật là biết tước bỏ và tập trung” (Lep Tonxtoi). Nguyễn Du đã “tước bỏ” những chi tiết về tên, tuổi, quê quán. Và “tập trung” với vài chữ thật đắt, thật sâu cay – “tót, sỗ sàng, cò kè”, tác giả đã “giết chết” nhân vật của mình để khẳng định bản chất một kẻ vô học, một con buôn với đầy đủ ngón nghề và sự ma lanh. Nhưng đằng sau đó, người ta còn thấy cả một phường buôn thịt bán người tàn nhẫn của xã hội phong kiến. Nhân vật Mã Giám Sinh vừa mang tính cá biệt vừa mang tính khái quát, là một điển hình tiêu biểu cho những nhân vật phản diện trong Truyện Kiều. Người đọc vừa thấy ở hắn một tính cách xảo quyệt của kẻ buôn người hạng nhất, vừa thấy thêm một góc tối nhơ bẩn của xã hội phong kiến đương thời. Từ câu chuyện đời Minh của Thanh Tâm Tài Nhân bên Trung Quốc, bằng tài năng bậc thầy, Nguyễn Du đã xây dựng nên những hình tượng điển hình độc đáo để từ nguyên tác Kim Vân Kiều truyện, “thiên văn tự tuyệt bút” – Truyện Kiều ra đời, dù vẫn giữ nguyên cốt truyện nhưng hiện thực đã trở thành hiện thực của xã hội Việt Nam đương thời, nhân vật đã trở thành con người Việt Nam. Tác phẩm mang đậm bản sắc dân tộc, dù xây dựng từ cái nền của tác phẩm nước ngoài chính bởi những hình tượng nhân vật điển hình như Kiều, Từ Hải, Mã Giám Sinh… Như vậy, “nghệ thuật không đòi hỏi phải thừa nhận cái tác phẩm của nó như là hiện thực” (Phơ-bách). Sự thực trong tác phẩm nghệ thuật không phải bản thân cuộc đời thực, thậm chí có lúc thực hơn ngoài cuộc sống vì hình tượng nhân vật không lệ thuộc máy móc vào yếu tố cá biệt. Sự kiện trong thực tế với sự kiện trong văn học có một khoảng cách lớn. Sợi dây mỏng manh nối giữa chúng chính là hình tượng nhân vật, là tư tưởng của người viết.

Hình tượng văn học là sự tổng hợp những tư tưởng và say mê, là kết quả của một tấm lòng đầy thiết tha” (Biêlinxki). Hình tượng nhân vật trong tác phẩm bao giờ cũng mang dấu ấn mạnh mẽ của chủ quan nhà văn, bộc lộ tiếng nói riêng, phong cách độc đáo của người nghệ sĩ. Mỗi hình tượng nhân vật điển hình lại tỏa chiếu ra một ánh sáng riêng. Đó chính là ánh sáng của tư tưởng nhà văn, của lí tưởng thẩm mĩ được soi chiếu qua hình tượng nhân vật là nơi gửi gắm trái tim sôi nổi nhiệt thành, đầy yêu thương của người viết. Đằng sau ngòi bút lạnh lùng, sắc sảo xây dựng nên một hình tượng Chí Phèo là trái tim Nam Cao nhức nhối những nhịp đập yêu thương và căm phẫn. Ông xây dựng Chí Phèo trong bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người không chỉ để cất lên tiếng nói tố cáo xã hội mà còn là tiếng nói cảm thông đòi quyền sống, quyền hạnh phúc con người. Những trang viết của Nguyễn Du cũng thấm đầy nước mắt khi miêu tả cuộc đời khổ đau của Thúy Kiều. Nhà thơ đã khóc cùng nhân vật, cười cùng nhân vật, nâng niu nhân vật lên bằng ngòi bút tình thương đầy lòng bác ái. Tư tưởng của nhà văn soi sáng trong các hình tượng nhân vật.Nó luôn hướng con người tới những giá trị đích thực của văn chương và cuộc sống. Văn học luôn là điểm tựa để con người vươn lên trên hoàn cảnh nghiệt ngã, hướng tới chân – thiện – mĩ cuộc đời. “Văn học là nhân học” (M.Gorki). Mọi yếu tố của văn học đều mang giá trị nhân văn, nhân đạo hóa con người, chỉ ra cho con người sự xấu xa để vươn tới cái cao cả của tâm hồn. Đó chính là thứ ánh sáng “được sinh ra từ tâm trí của nhà văn” không bao giờ tắt trong mọi tác phẩm văn chương chân chính.

“Hình tượng nhân vật được sinh ta từ tâm trí” bằng tài năng và tâm huyết của nhà văn, làm nên đặc điểm phong cách từng tác giả. Nó tỏa ra thứ ánh sáng của riêng người viết, ánh sáng của tài năng, của lương tri. Không một hình tượng nhân vật nào giống hình tượng nhân vật nào bởi nghề văn đòi hỏi sự sáng tạo, sự thâm nhập thực tế để xây dựng nên những hình tượng nhân vật bất hủ. Khi người nghệ sĩ đã thâm nhập sâu sắc vào nhân vật, họ như được sống cuộc đời của nhân vật, xúc động, yêu thương, vui buồn, đau khổ, giận hờn… như cảnh ngộ của chính mình. Đó là những giây phút “tự quên mình”, đồng thời in dấu chủ quan của mình vào đối tượng miêu tả. Các nghệ sĩ vĩ đại như L. Tôn-xtôi, M. Gorki, Ban zắc, Phlo-be… đều có sự thâm nhập sâu sắc như vậy. Ban zắc kể lại, sau khi đi theo và lắng nghe những người công nhân nói chuyện với nhau, ông nhanh chóng nhập thân vào đối tượng sâu sắc đến mức cảm thấy như mình cùng đang mặc những quần áo rách rưới như họ. Chỉ có sự thâm nhập thực tế bằng cả con người và trái tim thì người nghệ sĩ mới có thể sáng tạo nên những hình tượng nhân vật bất hủ, những nhân vật vừa là con người của quần chúng, vừa là con người của văn chương, vừa mang tính hiện thực, vừa mang tính nghệ thuật độc đáo. Bàn về giá trị của hình tượng điển hình trong tác phẩm, lời nhận định còn đặt ra yêu cầu của người nghệ sĩ chân chính. Đó là những yêu cầu của văn học muôn đời.

Mỗi người nghệ sĩ khi sáng tạo mang trong mình một nhiệt huyết sáng tạo cháy bỏng và con mắt tinh nhạy, nhìn hiện thực cuộc sống với con mắt của người đầu tiên; đặc biệt là “sống toàn tim, toàn trí, sống toàn tâm và thức nhọn giác quan” để xây dựng hình tượng nhân vật mang ý nghĩa, ẩn chứa bao điều huyền diệu, sâu sắc về nhân sinh. Và người tiếp nhận do đó khi thưởng thức tác phẩm cũng cần phải nâng cao trình độ thẩm mĩ, tìm hiểu và nhận ra ý nghĩa, giá trị của những hình tượng nhân vật.

Nhà văn là kẻ đã dùng những hình tượng và từ ngữ hoàn chỉnh lạ lùng để cô đặc lại những ý nghĩ, những cảm xúc, những giọt máu và những giọt lệ cay đắng, nóng bỏng của thế gian này. Hơn bất kì một nghề nghiệp, tôi yêu nghề văn bởi hình tượng nhân vật được sinh ra từ tâm trí của tôi và hiện thực cuộc đời dắt tôi đến một chân trời mới, một tâm hồn mới và những điều kì diệu chỉ thấy trong mơ.

NHỮNG DẪN CHỨNG HAY PHỤC VỤ VIẾT VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

Phan biet nang luc ngon ngu va nang luc van chuong

1/ Dẫn chứng về lối sống trung thực, bất chấp khó khăn vẫn đấu tranh cho lẽ phải

Thầy Chu Văn An (1292-1370) là một nhà nho, nhà hiền triết, nhà sư phạm mẫu mực cuối đời Trần, nổi tiếng là người cương trực không màng danh lợi. Ông ra làm quan thời Trần Dụ Tông (đầu thế kỉ XIV),chính sự suy đồi, nịnh thần lũng đoạn, ông dâng sớ xin chém 7 tên nịnh thần (Thất trảm sớ) nhưng không được chấp thuận. Ông treo ấn từ quan về quê dạy học và viết sách. Ông có rất nhiều học trò đỗ đạt làm quan to trong triều đình. Song học trò của ông nếu mắc lỗi vẫn có thể bị ông thẳng thắn phê bình. Ông nổi tiếng về tính cách khảng khái và cương trực, là người thầy đạo cao đức trọng, xứng đáng là “Vạn thế sư biểu” của muôn lớp học trò người Việt.

2/ Dẫn chứng về sự chiến thắng bản thân

Chị Phạm Thị Huệ quê ở Hải Phòng, là một trong số ít người Việt Nam có HIV mà dám công khai thân phận. Chị biết mình và chồng mình nhiễm bệnh, nhưng chị đã chiến thắng nỗi sợ hãi của bản thân để đóng góp sức lực còn lại cho cuộc đời. Tháng 02/2005 chị trở thành một thành viên cộng tác trong tổ chức Liên Hợp Quốc. Chị được Tạp chí Times bầu chọn là Anh hùng châu Á. 

3/ Dẫn chứng cho hành động thiết thực vì môi trường

Chiến dịch The Earth Hours (Giờ Trái Đất) do quỹ bảo tồn thiên nhiên quốc tế tổ chức đã nhận được sự hưởng ứng của 62 quốc gia, hướng đến con số 1 tỉ người trên 1000 thành phố tham gia. Tất cả đã tắt đèn vào ngày thứ Bảy cuối cùng của tháng Ba lúc 20 giờ 30 phút để ủng hộ các hoạt động nhằm giảm thiểu những nguy cơ của sự biến đổi khí hậu toàn cầu.

4/ Dẫn chứng về sự tin tưởng vào bản thân

Walt Disney là con thứ tư trong một gia đình nông dân nghèo, cha nghiện rượu và bài bạc. Mới lên sáu cậu đã phải ra đồng làm việc. Rất mê vẽ nhưng vì không có tiền mua giấy vẽ, màu vẽ, cậu đã dùng than để vẽ lên giấy vệ sinh. Sau này cái tên W. Disney đã trở nên nổi tiếng thế giới với những bộ phim hoạt hình thu hút hàng triệu người xem. W. Disney đã từng nói về bốn điều làm nên cuộc đời mình như sau:

  • Một là: Tin tưởng vào bản thân mình.
  • Hai là: Suy nghĩ về những giá trị mà mình muốn có.
  • Ba là: Mơ ước về những điều có thể đến dựa trên niềm tin vào bản thân và những giá trị của chính mình.
  • Bốn là: Can đảm để biến ước mơ thành hiện thực, dựa trên những niềm tin vào bản thân và những giá trị của chính mình.

5/ Nghị lực và tình yêu nghệ thuật là con đường dẫn đến thành công

Andersen sinh ra trong một gia đình nghèo ở thành phố Odense- Đan Mạch. Cuộc sống của cậu bé nghèo khổ, không lúc nào có đủ bánh mì để ăn. Khi đi học, cậu lại luôn bị bạn bè chê cười vì ngoại hình xấu xí. Vượt lên tất cả, Andersen nuôi ước mơ trở thành nghệ sĩ. Cậu đi lang thang lên thành phố thủ đô Copenhagen, chấp nhận đóng những vai kịch tầm thường, làm người quét dọn… Cuối cùng, nghị lực và tình yêu nghệ thuật đã giúp Andersen thành công. Những câu chuyện của Andersen mãi mãi in sâu trong tâm trí độc giả, mang lại cho trẻ thơ niềm hạnh phúc, thắp lên những ước mơ đẹp.

6/ Tình yêu và sự tận tụy làm nên một nhân cách lớn

Thầy giáo Lý Quế Lâm (người Trung Quốc) là giáo viên trường tiểu học làng Nhị Bình- Tứ Xuyên. Suốt 19 năm, thầy dẫn học trò đến trường, vượt qua 5 chiếc thang gỗ dựng đứng trên vách núi cheo leo. Thầy trở thành một trong 10 nhân vật cảm động của Trung Quốc năm 2008.

7/ Thành công từ thất bại và khổ ải

O. Henry (1862-1910) là nhà văn trứ danh của nước Mĩ. Ông chưa từng được hưởng bất cứ sự giáo dục nào từ bên ngoài. Ông lại còn hay bị bệnh tật giày vò. Từ thuở nhỏ, ông đi chăn bò, chăn dê, làm thuê làm mướn. Ông cũng từng làm kế toán nhưng bị tình nghi là ăn trộm tiền nên bị bắt bỏ tù. Sau khi ra tù, ông bắt đầu viết truyện ngắn và trở nên nổi tiếng. Tác phẩm của ông thu hút được nhiều người đọc, nghiên cứu và trở thành một nội dung bắt buộc học trong giáo trình đại học ở nước Mĩ.

8/ Uy tín, danh dự là điều quan trọng tạo nên giá trị con người

Vladimir Putin – Tổng thống Nga được tạp chí Times (Mĩ) bình chọn là “Nhân vật của năm 2007”. Bằng sự lãnh đạo khôn ngoan và tài tình của mình, ông đã vực dậy và đưa nước Nga trở lại là một cường quốc trên thế giới. Uy tín của ông Putin và cả nước Nga không chỉ có nước Mĩ, châu Âu mà cả thế giới phải tôn trọng. 

9/ Sức mạnh của nghị lực vượt lên trên những khuyết thiếu của bản thân

Ông Niu-tơn – nhà toán học, vật lí học, cơ học, thiên văn học vĩ đại người nước Anh. Khi sinh ra là một đứa trẻ yếu ớt, thường phải tránh những trò chơi hiếu động của bạn bè. Do đó ông đã tự tạo những trò chơi của riêng mình. Sức khỏe yếu nhưng ông luôn nuôi nghị lực và lòng kiên trì tìm tòi. Nghị lực của ông đã được đền đáp bằng những phát minh thế kỉ của ông.

10/ Dẫn chứng về sức mạnh của lòng dũng cảm

Từ khi loài người có cuộc sống tách khỏi cầm thú, hàng triệu năm họ luôn phải phấp phỏng lo sợ bởi sấm sét kinh hoàng. Franklin – nhà bác học Mĩ đã dũng cảm thực hiện thí nghiệm làm cột thu lôi. Công việc đó có thể gây ra cái chết cho ông bất cứ lúc nào. Sau nhiều năm đương đầu với sấm sét, năm 1752, Franklin đã thành công. Và bây giờ, loài người chúng ta đã không còn phấp phỏng nỗi lo sợ ngày xưa nữa.

11/ Tự tạo cơ hội cho mình nếu không thì chẳng bao giờ có cơ hội

Thuở thiếu thời, Picasso là một họa sĩ vô danh, nghèo túng ở Paris. Một lần ông sắp nhẵn túi, chỉ còn 15 đồng bạc, ông quyết định đánh canh bạc cuối cùng. Ông thuê sinh viên dạo qua các cửa hàng tranh và hỏi: “Ở đây có bán tranh của Picasso không?”. Chưa đầy một tháng sau, tên tuổi của ông đã nổi tiếng khắp Paris. Tranh của ông bán được rất nhiều và ông trở nên nổi tiếng từ đó.

12/ Thành công nhờ sự tự học và niềm đam mê công việc

Bill Gate sinh ra trong một gia đình khá giả ở Hoa Kì. Từ nhỏ, ông đã say mê toán học. Ông từng đậu vào ngành Luật của trường đại học Harvard, nhưng với niềm say mê máy tính, ông đã nghỉ học và cùng một người bạn mở công ty Microsoft. Vượt qua nhiều khó khăn, ông đã trở thành người giàu nhất hành tinh và hiện nay ông dành 95% tài sản của mình để làm từ thiện.

13/ Tấm gương nhà văn của nghị lực

Chị Trần Trà My sinh ra và lớn lên tại Đông Hà, Quảng Trị. Ngay từ bé, chị đã từng phải trải qua một ca đại phẫu thuật không thành công khiến đôi chân bị bại liệt, chị chỉ có thể nằm một chỗ và ú ớ nói không thành lời. Không thể đến trường, những tưởng cuộc sống sẽ chỉ loanh quanh trong 4 bức tường, nhưng không, chị bắt đầu tập viết. Khi những con chữ lành lặn ra đời, chị tập viết nên những cảm xúc, suy nghĩ của mình qua các tản văn, truyện ngắn… Với đam mê, chị đã trở thành một nhà văn. Đôi chân bước đi không vững, đôi tay chỉ có thể gõ máy tính bằng một ngón nhưng đến nay, nhà văn Trần Trà My đã cho ra đời 3 cuốn sách và nhiều bài báo. Chị đã làm được việc đó bằng một nghị lực chưa bao giờ cạn.

14/ Tấm gương người khuyết tật vượt lên hoàn cảnh

Hiệp sĩ công nghệ thông tin Nguyễn Công Hùng sinh ra trong một gia đình nghèo. Năm lên 2 tuổi, cậu bé mắc một căn bệnh khiến toàn thân bị bại liệt. Từ đó trở đi Hùng phải thường xuyên điều trị trong bệnh viện. Thương cha mẹ vất vả, bằng nghị lực cùng sự thông minh, năm 2003, anh đã thành lập “Trung tâm nghị lực sống” để dạy nghề và giới thiệu việc làm cho người khuyết tật. Hùng làm quen với máy tính và thế giới Internet đầy lôi cuốn đã làm tăng thêm nghị lực cho chàng trai khuyết tật. Anh bắt đầu phổ cập tin học cho thanh niên xã, giúp đỡ hàng trăm người khuyết tật và trẻ mồ côi tìm được việc làm phù hợp. Với những cống hiến không mệt mỏi của mình, năm 2005, Công Hùng được Tạp chí eChip phong là Hiệp sĩ Công nghệ thông tin, năm 2006, anh được Trung ương Đoàn bầu chọn là một trong 10 gương mặt trẻ tiêu biểu toàn quốc. Anh được trao tặng danh hiệu Hiệp sĩ công nghệ thông tin

DẠY HỌC SINH CÁCH VIẾT ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI NHƯ THẾ NÀO?

Day viet doan van nghi luan xa hoi nhu the nao?

I/ Tìm hiểu chung về văn nghị luận xã hội

1/ Khái niệm văn nghị luận xã hội

– Nghị luận: là bàn bạc, bàn luận một vấn đề.

– Văn nghị luận xã hội: la bàn bạc các vấn đề đời sống xã hội: đáng khen, đáng chê, đáng suy nghĩ; hay những vấn đề về chính trị, đạo đức, lối sống, tính cách… của con người. Nằm làm rõ đúng, sai, xấu, tốt của vấn đề. Từ đó có thể tìm hiểu một cách thấu đáo để vận dụng vào thực tiễn.

2/ Đặc điểm văn nghị luận xã hội

Bài văn nghị luận xã hội cần phải có những yếu tố sau:

  • Luận đề: Là yêu cầu của đề bài, vấn đề nghị luận cơ bản của bài văn.
  • Luận điểm: Là những ý chính, những tư tưởng, vấn đề chính sẽ bàn luận.
  • Luận chứng, luận cứ: Là dẫn chứng, lí lẽ để chứng minh làm sáng tỏ luận điểm.
  • Lập luận: Cách trình bày luận điểm, luận cứ một cách mạch lạc, rõ ràng, logic theo một trình tự hợp lí.

Lưu ý: Dẫn chứng phải tiêu biểu, giàu sức thuyết phục.

3/ Tìm ý và lập dàn ý cho đoạn văn nghị luận xã hội

Sau khi đọc và tìm hiểu luận đề, ta phải có thao tác lập dàn ý để đoạn văn logic, có trình tự rõ ràng. Lập dàn ý là phải theo một quy trình: Xác định luận điểm, tìm luận cư, tìm dẫn chứng, xây dựng lập luận.

a/ Xác định luận điểm

Một luận đề phải được xác định bằng một hệ thống luận điểm. Để tìm ý được dễ dàng chúng ta nên đặt ra và trả lời các câu hỏi sau:

  • Là gì?
  • Như thế nào?
  • Vì sao? Tại sao?
  • Biểu hiện như thế nào?
  • Ý nghĩa của vấn đề đó đối với cuộc sống và con người?
  • Tác động hoặc tác hại của vấn đề nghị luận đối với cuộc sống và con người?

Ví dụ: Bàn về đức tính trung thực:

  • Trung thực là gì?
  • Biểu hiện của trung thực?
  • Vì sao phải sống trung thực?
  • Ý nghĩa của tính trung thực đối với con người.
  • Bài học liên hệ.

b/ Tìm luận cứ (lí lẽ, dẫn chứng)

Lí lẽ và dẫn chứng là cốt yếu của bài văn nghị luận xã hội. Lí lẽ phải sắc bén, đanh thép, hùng hồn (đảm bảo tính chân lí). Dẫn chứng phải xác thực, chọn lọc, giàu sức thuyết phục (là dẫn chứng trong thực tế đời sống, người thật việc thật).

Ví dụ: Bàn về vai trò của tinh thần đoàn kết

Lí lẽ: Cần trả lời thấu đáo các câu hỏi sau:

 + Biểu hiện của đoàn kết?

+ Vì sao phải đoàn kết?

+ Sức mạnh của đoàn kết?

+ Làm gì để giữ gìn và phát huy tinh thần đoàn kết?

-Dẫn chứng: Nêu các dẫn chứng tiêu biểu:

+ Đoàn kết trong chiến tranh.

+ Đoàn kết trong hòa bình.

+ Đoàn kết trong gia đình, xóm làng, trường lớp, ngoài xã hội, trên thế giới…

c/ Xây dựng lập luận

Xây dựng luận điểm, lí lẽ, dẫn chứng phải theo trình tự, logic, hợp lí, khoa học.

Dùng lí lẽ để giải thích vấn đề:

Ví dụ: Bàn về việc nói dối có hại.

+ Giải thích thuật ngữ: nói dối là gì?

+ Biểu hiện và thực trạng của nói dối?

+ Nguyên nhân và tác hại của việc nói dối?

+ Biện pháp khắc phục và bài học liên hệ?

– Nêu dẫn chứng để chứng minh vấn đề:

+ Có thể lấy dẫn chứng ngoài thực tế (các nhân vật, con người thật, việc thật); có thể lấy dẫn chứng trong văn học (các câu ca dao, tục ngữ, danh ngôn,…).

+ Dẫn chứng phải được nêu ra theo một trình tự hợp lí: từ đơn giản đến phức tạp; từ ít sang nhiều; từ thực tế sang văn học, từ xưa đến nay,…

+ Dẫn chứng phải tiêu biểu, được nhiều người biết đến, có sức thuyết phục.

– Bàn luận mở rộng vấn đề:

+ Có thể bàn luận phản lại vấn đề: mặt trái của vấn đề

Ví dụ: tự tin quá trở thành tự cao tự đại; Siêng năng mà không thông minh sáng tạo sẽ thành phá hoại;…

Như vậy có nghĩa là người viết phải lật đi lật lại vấn đề để bàn luận cho thấu đáo, nhằm thuyết phục người đọc, người nghe.

4/ Cách viết đoạn văn nghị luận xã hội

* Bước 1: Xây dựng câu mở đoạn

Câu mở đoạn thường chỉ dùng một câu (Câu tổng- chứa đựng thôn tin của đề thi yêu cầu. Câu này mang tính khái quát cao).

* Bước 2: Xây dựng thân đoạn

– Giải thích các cụm từ khóa, giải thích các thuật ngữ (giải thích nghĩa đen, nghĩa bóng, cần ngắn gọn, đơn giản).

– Bàn luận: Đặt ra các câu hỏi và trả lời:

+ Vì sao? Tại sao?

+ Biểu hiện như thế nào?

+ Ý nghĩa của vấn đề đó đối với cuộc sống và con người?

+ Tác động hoặc tác hại của vấn đề nghị luận đối với cuộc sống và con người?

+ Sau đó bình luận, chứng minh từng ý lớn (có thể chọn theo các mô típ viết từ: Gia đình, nhà trường, xã hội; hoặc trong học tập, lao động, sinh hoạt hằng ngày…).

+ Đưa ra dẫn chứng phù hợp, ngắn gọn, chính xác (tuyệt đối không kể chuyện rông dài, tán gẫu, sáo rỗng, có thể đưa dẫn chứng thực tế, dẫn chứng văn học).

+ Trong quá trình phân tích dẫn chứng có thể lồng cảm nghĩ, đánh giá, liên hệ.

+ Bàn luận mở rộng: bàn luận phản đề hoặc mở rộng vấn đề- đồng tình hoặc không đồng tình.

+ Bài học nhận thức và hành động: cho bản thân, mọi người.

* Bước 3: Viết kết đoạn

Khái quát lại giá trị của vấn đề nghị luận, rút ra bài học.

* Ví dụ: Bàn về vai trò và tác dụng to lớn của sách trong đời sống tinh thần của con người, nhà văn Mac-xim Gooc-ki có viết: “Sách mở rộng trước mắt tôi những chân trời mới”. Hãy giải thích và bình luận ý kiến trên.

a/ Xác định luận đề

Bài văn cần làm sáng tỏ vấn đề gì?

Quan điểm của chúng ta về vấn đề đó như thế nào?

b/ Xác định các luận điểm

Căn cứ vào đề bài, vào yêu cầu của bài văn và huy động những hiểu biết của mình, em hãy suy nghĩ và trả lời các câu hỏi sau đây:

  • Sách là gì?
  • Sách có tác dụng như thế nào?
  • Thái độ đối với sách và việc đọc sách như thế nào?

c/ Tìm luận cứ cho các luận điểm

Hãy lần lượt trả lời các câu hỏi sau đây:

Đối với luận điểm 1: (Sách là sản phẩm tinh thần kì diệu của con người):

+ Sách là sản phẩm thuộc lĩnh vực nào của con người?

+ Sách phản ánh, lưu giữ những thành tựu gì của nhân loại?

+ Sách có chịu ảnh hưởng của thời gian và không gian không?

– Đối với luận điểm 2 (Sách mở rộng những chân trời mới):

+ Sách đem lại cho con người những hiểu biết gì về tự nhiên và xã hội?

+ Sách có tác dụng như thế nào với cuộc sống riêng tư và quá trình tự hoàn thiện mình?

– Đối với luận điểm 3 (Cần có thái độ đúng đối với sách và việc đọc sách):

+ Thái độ của em đối với các loại sách?

+ Đọc sách như thế nào là tốt nhất?

II/ Kết hợp yếu tố tự sự, biểu cảm và miêu tả vào văn nghị luận xã hội

1/ Các yếu tố tự sự trong văn nghị luận xã hội

Tự sự trong văn nghị luận là tóm tắt, kể lại ngắn gọn các sự việc hoặc câu chuyện để làm dẫn chứng hoặc lí lẽ thuyết phục người đọc, người nghe.

– Ví dụ đoạn văn nghị luận kết hợp yếu tố tự sự:

Đề bài: Bàn luận về nhận định sau bằng đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ): Một người đã đánh mất niềm tin vào bản thân thì chắc chắn sẽ còn đánh mất thêm nhiều thứ quý giá khác nữa.

Bài làm

Câu chuyện về một vị tướng quân khi xuất trận, nhà vua đã hỏi vị tướng ấy như sau: Nếu phải chọn đánh mất trong các điều kiện sau thì tướng quân chọn đánh mất cái gì trước, cái gì sau: quân đội, đất nước, niềm tin? Vị tướng quân ấy trả lời rằng: Tôi sẽ chấp nhận đánh mất quân đội trước, vì nếu mất quân đội thì còn đất nước và niềm tin. Niềm tin của tôi sẽ dây dựng lại cho quân đội; nếu phải mất nhiều hơn thế thì tôi sẽ chấp nhận mất quân đội và đất nước và giữ niềm tin, vì nếu còn niềm tin thì tôi sẽ tập hợp quân đội mà lấy đất nước. Nhưng nếu đánh mất niềm tin mà còn quân đội và đất nước thì không sớm thì muộn tôi sẽ đánh mất tất cả. Đó là sự lựa chọn khôn ngoan nhất! Chính vì thế, sách Dám thành công dạy rằng: “Một người đã đánh mất niềm tin vào bản thân thì chắc chắn sẽ còn đánh mất thêm nhiều thứ quý giá khác nữa”. Vậy Mất niềm tin vào bản thân là gì?

2/ Các yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận xã hội

– Yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận được biểu hiện dưới dạng thức như sau:

+ Tính khẳng định hay phủ định.

+ Biểu lộ các cảm xúc như yêu, ghét, căm giận, quý mến, khen, chê, lo âu, tin tưởng…

+ Giọng văn biểu cảm.

– Ví dụ đoạn văn nghị luận kết hợp yếu tố biểu cảm:

Đề bài: Bàn luận về ý nghĩa của tình mẫu tử trong cuộc sống mỗi người bằng đoạn văn (khoảng 200 chữ).

Bài làm

“Thương con mẹ dệt niềm tin. Cho con ăn học cho mình ước ao. Nỗi lo mẹ cộng thêm vào. Tuổi xuân tươi đẹp mẹ nào tiếc chi”. Tự bao đời nay, tình mẹ luôn được ngợi ca như biển Thái Bình, “như nước trong nguồn chảy ra”. Quả thực vậy, tình mẫu tử là một tình cảm thiêng liêng, cao quý theo ta suốt cuộc đời này. Mẹ là người đã phải trải qua chín tháng mười ngày vất vả khổ cực để sinh thành nên ta, mẹ nuôi dưỡng ta bằng tiếng hát, bằng dòng dòng sữa mát ngọt dịu êm. Mẹ tần tảo lo lắng nuôi dạy cho ta thành người, mẹ như ánh sao rực rỡ soi sáng cuộc đời của ta. Làm sao có thể nói hết công lao to lớn, vĩ đại của mẹ, làm sao gánh hết những vất vả nhọc nhằn mẹ chịu vì con. Mỗi lần cất tiếng gọi mẹ là lòng ta lại dâng trào bao cảm xúc, mẹ – chỉ một từ thôi sao mà thiêng liêng quá đỗi. Mẹ như người thầy, người chị chia sẻ với ta những kinh nghiệm sống, động viên ta những lúc ta buồn, ta thất bại. Mẹ là động lực để ta tin tưởng và có niềm tin vào cuộc đời, mẹ luôn là người dang tay đỡ ta khi ta vấp ngã, khi ta khó khăn. Con là áng mây trôi mềm mại bên mẹ, mẹ là vầng trăng tỏa sáng dịu mát phúc hậu cho cuộc đời con. Được ở bên mẹ, cuộc sống sẽ đẹp hơn bất cứ xứ sở thần tiên nào. Mẹ là bến bờ kì lạ. Bến bờ ấy dường như vô hình nhưng bất tận cho con neo đậu sau những chặng đường mệt mỏi. Con được chở che ôm ấp, được nương tựa suốt cuộc đời. Mẹ không chỉ là vầng trăng dịu mát, phúc hậu; là bến bờ để con neo đậu mà mẹ còn là cánh chim chắp cánh ước mơ cho con bay thật xa, là cành hoa thơm ngát để con cài lên ngực, là ánh sao sáng soi đường trong đêm tối cho con đi. Không ai có thể đong đếm được tình yêu thương của mẹ. Mẹ vất vả, hy sinh cả cuộc đời mình cho ta mà không than thở điều gì. Có những lúc ta cáu giận vô cớ, nặng lời với mẹ, mẹ chỉ im lặng, mẹ lặng lẽ giấu nước mắt trong nụ cười với ta. Mẹ, tình mẹ cao cả và tuyệt vời biết bao! Mỗi chúng ta cần phải biết trân trọng, yêu thương, chăm sóc quan tâm đến mẹ nhiều hơn nữa. Có bao giờ chúng ta để ý đến tóc mẹ đã điểm những sợi bạc? Có hay những nếp nhăn hằn nơi khóe mắt mẹ? Vậy mà vẫn còn nhiều kẻ không biết trân trọng, yêu quý mẹ của mình, có những người con bất hiếu đối xử tệ bạc với mẹ của mình, không làm tròn chữ hiếu, không trọn đạo làm con. Hỡi những ai đang còn có mẹ bên mình, hãy trân trọng từng giây từng phút quý báu bên mẹ để ta không phải rơi những giọt nước mắt hối lỗi muộn màng khi mẹ đã ra đi về bên kia cuộc đời.

3/ Các yếu tố miêu tả trong văn nghị luận xã hội

– Yếu tố miêu tả trong văn nghị luận là các chi tiết miêu tả tái hiện, liên tưởng, so sánh, nhân hóa… các sự vật hiện tượng trong cuộc sống.

– Đoạn văn nghị luận kết hợp yếu tố miêu tả:

– Ví dụ:

Đề bài: Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bàn về lòng yêu thương con người.

Bài làm

Có một gia vị làm tăng thêm hơi ấm và ý nghĩa trong cuộc sống đó chính là tình yêu thương. Nếu có một tình cảm thiêng liêng giúp chúng ta vượt qua bao khó khăn, thử thách đó cũng chính là lòng yêu thương. Vậy lòng yêu thương là gì? Là sự quan tâm, ân cần, đồng cảm, sẻ chia về vật chất và tinh thần. Tình yêu thương là hơi ấm xua tan giá lạnh, là nghị lực giúp con người chống chọi mọi thăng trầm khắc nghiệt của cuộc sống, ươm mầm cho trái tim hoài bão và khát vọng. Để con người không chỉ sống mà còn hạnh phúc trong cuộc sống đó. Những vật vô tri, vô giác như đất, nước, cỏ còn biết sống yêu thương nhau: Đất biết tôn cao nhau để làm nên ngọn núi hiên ngang sừng sững, thách thức thời gian. Nước làm đầy nhau để tạo thành những đại dương mênh mông, lấy đi bao vực thẳm. Cỏ biết đan vào nhau tạo nên những thảo nguyên xanh ngút chân trời. Những loài động vật khác nhau còn có thể yêu thương nhau, huống chi là loài người chúng ta, cùng là nhân loại, cùng sống trên một hành tinh xanh. Có người nghĩ rằng chỉ cần anh ta trên cõi đời là đủ để sống. Xã hội ngày nay luôn bận rộn chạy theo guồng máy của công việc, chạy đua với thời gian, nhưng không vì thế mà tình yêu thương giữa người với người bị đánh mất. Ở đâu đó, còn rất nhiều những tấm lòng chan chứa yêu thương luôn rộng mở. Tình yêu thương trong mỗi gia đình là tiếng ru ngọt ngào giúp mọi thành viên luôn muốn trở về mái ấm, xua tan đi những mệt mỏi của cuộc sống thường nhật. Tình yêu thương của thầy cô, bạn bè giúp chúng ta tự tin hơn, mạnh mẽ hơn trên bước đường đời. Và rồi biết bao những tấm lòng san sẻ tinh thần, vật chất và cả những việc làm dù là nhỏ nhoi để bao em nhỏ có được những trái tim lành lặn. Bao con người có những cặp lá yêu thương. Có những mùa hè xanh trải dọc khắp miền đất hình chữ S thân yêu này để bao mảnh đời bất hạnh được sưởi ấm. Thế nhưng đâu đó vẫn còn những con người máu lạnh, họ thờ ơ, vô cảm với mọi người, thậm chí là ghen ghét hận thù, cay nghiệt… Rồi kết cục, họ cũng chỉ như những hình nộm dù có lộng lẫy, sáng loáng nhưng vẫn vô hồn trống rỗng. Cuộc sống sẽ cho ta yêu thương và tình yêu thương nếu chúng ta viết và vẽ nên cuộc sống bằng tình yêu nhân loại. Cần lắm những tấm lòng dù có thể chỉ là để gió cuốn đi. Hãy luôn yêu thương và bạn sẽ nhận được sự yêu thương.

4/ Hạn định số dòng, số câu cho từng phần trong đoạn văn nghị luận xã hội

-Mở đoạn: 1-2 câu.

-Thân đoạn:

+ Giải thích: 3 dòng

+ Bàn luận: (quan trọng nhất) khoảng 18 dòng

+ Mở rộng vấn đề: khoảng 3 dòng

+Bài học nhận thức và hành động: 1-2 dòng

-Kết đoạn: 1-2 dòng

Bài 200 chữ có thể viết lên 250 chữ (tương đương 20 dòng).

5/ Luyện tập

Trong một lần nói chuyện với học sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Em hãy viết một đoạn văn nghị luận (200-250 chữ) nêu ý kiến của mình về lời dạy của Bác.

Chú ý vận dụng yếu tố tự sự, miêu tả và biểu cảm vào đoạn văn.

PHÂN BIỆT NĂNG LỰC NGÔN NGỮ VÀ NĂNG LỰC VĂN CHƯƠNG

Phan biet nang luc ngon ngu va nang luc van chuong

PGS-TS ĐỖ NGỌC THỐNG

Bên cạnh yêu cầu phát triển phẩm chất và năng lực chung, chương trình Ngữ văn 2018 tập trung hình thành và phát triển hai năng lực đặc thù quan trọng là năng lực ngôn ngữ (NLNN) và năng lực văn học (NLVH). Hai năng lực này đều được thể hiện qua các kĩ năng đọc, viết, nói, nghe. Việc đánh giá NLNN và NLVH cũng phải thông qua các kĩ năng này. Vậy giữa hai năng lực có điểm gì khác nhau?

Về đọc hiểu, yêu cầu của NLNN là đọc hiểu các văn bản thông thường, đơn nghĩa, chủ yếu là văn bản thông tin và một số văn bản nghị luận đơn giản. NLVH cũng yêu cầu đọc hiểu, nhưng là đọc hiểu văn bản văn học, là văn chương hư cấu, là đọc các hình tượng nghệ thuật được tạo nên bởi chất liệu ngôn từ, là văn bản đa nghĩa. Hiểu là quan trọng, từ hiểu mà rung động, cảm nhận, thưởng thức, đánh giá tác phẩm có cơ sở hơn, sâu sắc hơn; biết lí giải cái hay, cái đẹp, chỉ ra cái lí của các hình thức nghệ thuật… Nói cách khác đánh giá, cảm thụ văn học trên cơ sở của đọc hiểu sẽ giúp người đọc thoát khỏi tình trạng thích mà không hiểu vì sao mà mình thích, tình trạng mà nhà phê bình văn học Nga V.Bielinxki (1811-1848) gọi là “sự thích thú đau khổ”.

Tương tự đọc hiểu là viết. Với NLNN là yêu cầu viết các văn bản thông thường, nội dung đơn giản, rõ nghĩa như các văn bản thông tin. Còn viết NLNH là biết tạo ra ý, từ ý đúng đến ý hay, ý sáng tạo mới mẻ, độc đáo. Từ ý tưởng biết sử dụng ngôn ngữ như dùng từ đặt câu, các biện pháp tu từ để diễn đạt ý tưởng một cách hình ảnh, khác lạ, hấp dẫn… NLVH thể hiện ở kĩ năng viết còn là yêu cầu biết tạo ra các sản phẩm mang tính nghệ thuật: bài văn nghị luận, ghi chép, bài văn miêu tả, tự sự… Những học sinh có năng khiếu có thể có các bài thơ, truyện ngắn, bút kí… ngay khi còn trên ghế nhà trường.

Với kĩ năng nói và nghe, NLNN thể hiện qua các yêu cầu giao tiếp thông thường, nói nghe tự tin, rõ ràng, có thái độ phù hợp, gần gũi với ngôn ngữ đời sống… Với NLVH, nói và nghe không chỉ yêu cầu như NLNN mà còn phải biết nói hay, nói có sức thuyết phục, biết kết hợp lời nói và ngôn ngữ hình thể; từ nói đúng, nói hay đến diễn thuyết hấp dẫn, hùng biện.

Từ sự phân biệt tương đối nêu trên, việc đánh giá năng lực sẽ xác định được đề thi phù hợp. Mục tiêu đánh giá năng lực nào thì đề tập trung vào các yêu cầu ấy. Kiến thức lí luận và lịch sử văn học chỉ là công cụ để giúp học sinh đọc hiểu, cảm thụ tốt tác phẩm và viết bài nghị luận văn học hay hơn. Vì thế đánh giá NLVH, nhất là với học sinh giỏi thì quan trọng hơn cả là yêu cầu đọc hiểu và phân tích, cảm thụ tác phẩm văn học. Nhưng để tránh chép văn mẫu, để đo được chính xác năng lực vận dụng và sáng tạo cần yêu cầu học sinh đọc hiểu và viết về một văn bản mới, chưa được học. Đối với học sinh bình thường, yêu cầu NLNN lại cần được coi trọng. Khi đó chỉ cần yêu cầu đọc hiểu và viết các văn bản thông thường, nhất là văn bản thông tin. Tất nhiên vẫn có văn bản văn học, nhưng độ khó không thể như yêu cầu với học sinh giỏi. Việc kiểm tra thường xuyên vẫn cần đánh giá cả các văn bản đã học, nhưng với đánh giá định kì nên yêu cầu vận dụng kĩ năng đọc, viết với ngữ liệu mới.

NLVH thể hiện ở cả bốn kĩ năng đọc, viết, nói, nghe. Đánh giá năng lực này của học sinh có thể bằng nhiều cách. Tuy nhiên phù hợp hơn cả là yêu cầu các em đọc hiểu văn bản văn học (VBVH); hạn chế yêu cầu đọc hiểu văn bản thông tin hay văn bản nghị luận; hai loại này phù hợp hơn với yêu cầu trong đánh giá NLNN.

VBVH được viết bằng nhiều thể loại, với học sinh phổ thông chỉ nên yêu cầu đọc hiểu một số thể loại thông thường. Tiểu học chủ yếu đọc hiểu thơ và truyện; THCS gồm thơ, truyện, kí, kịch; THPT cũng vẫn là các thể loại lớn ở THCS nhưng chú ý hơn đến đặc điểm thể loại; yêu cầu cao hơn về độ khó. Cho dù thế cũng không nên đánh đố học sinh bằng các nhận định lí luận văn học, hay văn học sử quá phức tạp, rắc rối. Những kiến thức lí luận hay văn học sử là cần thiết, nhưng chỉ là công cụ để giúp học sinh đọc hiểu VBVH có hiệu quả hơn.

Để ra đề kiểm tra NLVH cần bám sát vào các yêu cầu cần đạt của mỗi lớp đã ghi trong chương trình. Tuy nhiên đánh giá việc đọc hiểu VBVH thường tập trung vào yêu cầu cơ bản, phù hợp với học sinh mỗi cấp học. Dù sử dụng hình thức nào thì đánh giá việc hiểu một VBVH cũng cần tập trung vào một số yêu cầu sau:

a/ Văn bản ấy nói về việc / chuyện gì? Việc / chuyện ấy có gì đặc sắc?

b/ Qua việc / chuyện ấy người viết (tác giả) muốn nói điều gì với người đọc? Vì sao có thể hiểu đó là điều tác giả muốn nói? Liệu có thể hiểu khác được không?

c/ Điều người viết muốn gửi gắm được thể hiện qua các yếu tố hình thức nào? Vì sao sử dụng hình thức ấy là hay, sâu sắc và phù hợp với điều muốn nói?

Các yêu cầu nêu trên là khái quát. Yêu cầu a/ là thấp nhất, đó là hiểu nội dung bề nổi của văn bản, học sinh chỉ cần đọc qua là có thể trả lời được. Yêu cầu b/ bắt đầu cao hơn, học sinh phải hiểu thông điệp chìm khuất sau văn bản; hiểu bề sâu, cái không hiển ngôn trên văn bản; chỉ ra văn bản viết về chuyện này nhưng là để nói chuyện khác. Thông điệp chìm khuất ấy là khả biến, là khoảng trống, nhiều tầng, mỗi người đọc có thể tiếp nhận khác nhau. Nhưng tiếp nhận phải có căn cứ, không thể suy diễn bừa bãi, nên cần yêu cầu lí giải “Vì sao?”. Yêu cầu c/ là yêu cầu đánh giá và lí giải sự phù hợp giữa hình thức biểu đạt và nội dung văn bản; là một yêu cầu khó hơn. Cuối cùng d/ yêu cầu học sinh liên hệ để thấy sự tác động của văn bản có ý nghĩa đối với cuộc sống của chính mình như thế nào; thấy văn bản nói chuyện xưa mà vẫn có giá trị với bây giờ…

Từ các yêu cầu cơ bản nêu trên để ra đề kiểm tra. Trước hết cần xác định mục tiêu và nội dung của việc kiểm tra-đánh giá, tiếp đến là lựa chọn văn bản đọc hiểu, sau đó xác định hình thức (trắc nghiệm, tự luận) và cài đặt các yêu cầu nêu trên vào đề cũng như đáp án. Và đương nhiên qua bài văn sẽ đánh giá được năng lực viết của học sinh nên cần dành điểm cho năng lực này.

VỀ NHÂN VẬT MẸ CHỒNG TRONG HAI CÂU CHUYỆN CỦA HAI THỜI ĐẠI: CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG (NGUYỄN DỮ) VÀ VỢ NHẶT (KIM LÂN)

Trong tác phẩm tự sự, nhân vật là linh hồn của tác phẩm, là hình tượng mang thông điệp của nhà văn. Khi xây dựng nhân vật, nhà văn có thể miêu tả đầy đủ các chi tiết từ lai lịch, ngoại hình, đến hành động, ngôn ngữ… Trong bài viết này chúng ta chỉ đề cập đến lời trăng trối của nhân vật bà mẹ Trương Sinh và độc thoại của nhân vật bà cụ Tứ để khám phá vẻ đẹp của những người mẹ chồng, những người phụ nữ bình dị sống ở những thời đại khác nhau nhưng lại có cùng một vẻ đẹp.

Ngôn ngữ của nhân vật văn học có tính cá thể hóa cao, mang đậm dấu ấn cá nhân, dấu ấn phong cách của nhà văn. Vì thế, việc lựa chọn lời thoại cho nhân vật là một dụng công nghệ thuật. Trong Chuyện người con gái Nam Xương (Nguyễn Dữ) và Vợ nhặt (Kim Lân), người đọc có lẽ ấn tượng không chỉ với nhân vật Vũ Nương, Trương Sinh, Tràng, thị, mà còn không quên hình ảnh hai người mẹ chồng. Dù xuất hiện theo cách ít, nhiều, trực tiếp hay gián tiếp nhưng xả hai nhân vật này đều mang đến những giá trị sâu sắc, đánh thức trong lòng người đọc bao lẽ đời.

1. Về người mẹ chồng của Vũ Nương

Trước hết, ta tìm hiểu lời thoại của mẹ chồng Vũ Nương (Chuyện người con gái Nam Xương). Vì tuổi già, vì lâm bệnh, mẹ Trương Sinh không thể kéo dài sự sống để chờ đợi con trai, bà đã trăng trối với con dâu: “Ngắn dài có số, tươi héo bởi trời… Chồng con nơi xa xôi không biết sống chết thế nào, không thể về đền ơn được. Sau này, trời xét lòng thành, ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ”.

Thật xúc động trước lời của mẹ chồng dành cho nàng dâu. Từ lời trăng trối ấy, ta nhận thấy mối quan hệ hai chiều trong tình cảm mẹ chồng – nàng dâu. Người mẹ thấu hiểu công lao và sự thơm thảo của con dâu trong những ngày Vũ Nương làm dâu phụng dưỡng bà. Điều này trong xã hội phong kiến không dễ dàng tìm thấy, bởi ca dao xưa vẫn có câu:

Trách cha trách mẹ nhà chàng

Cầm cân chẳng biết là vàng hay thau. 

(Ca dao)

Đặc biệt, mẹ chồng Vũ Nương đã nhắn nhủ con dâu bằng tất cả niềm tin, hy vọng “trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con cũng chẳng phụ mẹ”. Đó là sự ghi nhận công ơn nàng dâu. Người mẹ chồng nghĩ rằng công ơn con dâu đối với mình có trời xanh thấu hiểu, nên trời sẽ ban phúc. Đó là niềm tin, hy vọng vào đức cao của Vũ Nương. Niềm tin dựa vào đạo đức trong sáng của con người là điều không lạ, nhưng trong câu chuyện này, đó là niềm tin, hy vọng của mẹ chồng dành cho nàng dâu. Thật hiếm có người mẹ chồng nào thấu hiểu và thành thực ghi nhận công ơn của con dâu một cách sâu sắc, thấm thía như thế. Đó chính là chất nhân văn tỏa ra từ một lời thoại đầy xúc động. Chất nhân văn trong lời nói ấy không chỉ là tình thương yêu trân trọng mà còn là niềm tin chân thành, thánh thiện vào vẻ đẹp của con người. Chỉ có vẻ đẹp trong nhân cách con người mới làm cho người ta tin tưởng vào những điều tốt đẹp một cách mãnh liệt đến thế.

2. Về người mẹ chồng của “vợ nhặt”

Nếu như ngôn ngữ độc thoại của các nhân vật góp phần tạo nên giọng điệu riêng của nhà văn, thì lời độc thoại của bà cụ Tứ trong Vợ nhặt của Kim Lân là một trường hợp tiêu biểu. Trong rất nhiều chi tiết, nhiều lời thoại của bà cụ Tứ, có một lời thoại khiến ta luôn day dứt bởi chất nhân văn vút lên từ đó. Khi bà lão bất ngờ gặp thị, người đàn bà xa lạ ở trong nhà mình, ngồi ở đầu giường con trai bà, dù chưa hỏi chuyện, chưa nghe lời thưa gửi nhưng bà cụ Tứ đã nghĩ, đã hiểu: “Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được…”. 

Số phận ba con người trong Vợ nhặt được đặt trong bối cảnh phải đối diện với chỗ kiệt cùng của sự sống, cái đói và cái chết đang truy đuổi. Bà cụ Tứ và Tràng không thể lo nổi miếng ăn cho mình và ngày mai có thể cũng chỉ là bức tranh đen tối, chết chóc. Thế nhưng bà đã nhìn người đàn bà xa lạ tình cờ gặp gỡ, cô con dâu mới ấy bằng tấm lòng thương cảm, trân trọng và cả sự hàm ơn rất đặc biệt. Không những mình biết ơn mà còn biết ơn thay con trai mình. Lời nói của bà cụ Tứ chứa chan lòng nhân hậu bao la.

Không dễ gì để những người phụ nữ, người mẹ chồng trong những hoàn cảnh này lại có cách nhìn thấu tỏ như bà cụ Tứ. Bao quan niệm, bao định kiến như án ngữ tồn tại ngàn đời trong suy nghĩ của những người phụ nữ, người mẹ chồng. Và nhất là trong những cảnh ngộ, tình huống mà gia cảnh của mình không có cái ăn, cái mặc, lại phải đèo bòng lấy một cô con dâu rách như tổ đỉa, nghèo xơ xác, không ngọn nguồn… Với hoàn cảnh này, người ta thường sẽ hờn trách số phận, không chấp nhận dễ dàng, nghĩ phần hơn về mình chứ thật khó nghĩ cho người khác. Còn bà cụ Tứ đã vượt qua những rào cản quen thuộc ấy để chấp nhận nàng dâu một cách đơn giản mà vô cùng thấu hiểu. Dù là lời độc thoại nhưng ta có thể hình dung ánh mắt của bà dành cho nàng dâu mới qua ý nghĩ ấy. Thì ra, càng đối diện với sự kiệt cùng, con người ta càng có những suy nghĩ, cách sống giàu lòng nhân ái. Phải chăng đây chính là giá trị nhân văn sâu sắc của tác phẩm.

Hai nhân vật, hai bà mẹ chồng được xây dựng trong hai tình huống khác nhau, hai thời đại khác nhau nhưng ở họ đã có sự gặp gỡ. Đó chính là sự thấu hiểu lẽ đời, hiểu phận người, là tấm lòng nhân hậu, bao dung, tri ân sâu sắc. Chất nhân văn vút lên từ đó, khơi dậy cho người đọc tin vào vẻ đẹp nhân cách, tâm hồn của những người phụ nữ bình thường mà thánh thiện. Người nghệ sĩ là người làm giàu cho cuộc sống là vậy.

(Lê Thị Hoàng Anh-Quảng Bình)

CHIẾN THUẬT “CUỘC GIAO TIẾP VĂN HỌC” – MỘT CÁCH TIẾP CẬN DẠY HỌC VĂN BẢN THÔNG TIN

Trên thế giới, văn bản thông tin được giảng dạy trong chương trình môn Ngữ văn từ lâu với sự phong phú về thể loại. Tại Việt Nam, khái niệm văn bản thông tin còn khá mới mẻ đối với cả giáo viên chúng ta và các em học sinh. Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đưa văn bản thông tin vào dạy đọc hiểu từ lớp 1 đến lớp 12. Đây là một điểm mới của chương trình 2018. Chúng ta cùng bàn luận một vài vấn đề.

1. Văn bản thông tin là gì?

Văn bản thông tin là văn bản được viết để truyền đạt thông tin, kiến thức. Loại văn bản này rất phổ biến, hữu dụng trong đời sống. Nó bao gồm nhiều thể loại: thông báo, chỉ dẫn, mô tả công việc, hướng dẫn sử dụng sản phẩm, lịch biểu, cơ sở dữ liệu, hợp đồng quảng cáo, các văn bản hành chính, từ điển, bản tin… Loại văn bản này thường trình bày một cách khách quan, trung thực, không có yếu tố hư cấu, tưởng tượng. Qua văn bản thông tin, người đọc, người nghe hiểu chính xác những gì được mô tả, giới thiệu. Thông tin có thể được tổ chức theo một trong các cách cấu trúc như: nguyên nhân-kết quả; trật tự thời gian; so sánh và phân loại; vấn đề và giải pháp… Trong văn bản thông tin, người viết thường sử dụng những cách thức hoặc phương tiện để hỗ trợ người đọc tìm kiếm thông tin một cách nhanh chóng và hiệu quả. Một bảng chú thích, một dòng in đậm, in nghiêng, những nét gạch chân, những dấu sao, dấu hoa thị hoặc những hình ảnh minh họa đều có thể giúp người đọc dễ dàng hơn trong việc xác định vị trí và mối quan hệ của các thông tin để hiểu nội dung văn bản.

2. Tiếp cận văn bản thông tin theo hướng nào?

Chiến thuật đọc hiểu thông tin là những biện pháp, thủ thuật, cách thức, thao tác nhất định nhằm dẫn dắt quá trình nhận thức của học sinh để chiếm lĩnh, kiến tạo ý nghĩa của văn bản một cách tích cực, chủ động, hiệu quả. Để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh và tránh sự đơn điệu, nhàm chán trong mỗi giờ học văn, giáo viên có thể vận dụng nhiều chiến thuật khác nhau nhằm thu hút, hấp dẫn các em. Trong đó, vận dụng chiến thuật “cuộc giao tiếp văn học”-chiến thuật tạo nên sự kết nối đa chiều khi đọc văn bản là một cách làm khả quan. Bởi nó sẽ giúp học sinh từng bước trở thành người đọc độc lập, thuần thục, có kĩ năng, thực hành thành thạo, sáng tạo trong học tập và ngoài đời sống. Học sinh như được tham gia vào sự việc để lắng nghe ý kiến đánh giá từ các điểm nhìn khác nhau về vấn đề đang bàn đến. Qua đó, bày tỏ suy nghĩ, chính kiến của mình.

Cách thức thực hiện chiến thuật này là giáo viên sẽ thiết kế mẫu phiếu học tập phù hợp theo sơ đồ bốn điểm nhìn và hướng dẫn học sinh thực hiện. Trung tâm của sơ đồ là vấn đề chính hoặc một câu hỏi lớn được đặt ra, một thông điệp, một khái niệm then chốt, hoặc một quan điểm… Trong giờ học, giáo viên là người tổ chức, định hướng các hoạt động học của học sinh. Sau khi học sinh nêu chính kiến, giáo viên có thể tổ chức cho cả lớp hoặc các nhóm thảo luận và kịp thời khen ngợi, khích lệ những ý tưởng hay, những kiến giải mới lạ. Song, cũng nên chia sẻ với những ý kiến trái chiều bằng thái độ ân cần, trân trọng; nên động viên, gợi dẫn để mọi học sinh đều có thể tự tin bày tỏ quan điểm của mình; điều này sẽ giúp cho giờ học trở nên sôi nổi hơn. Khoảng cách giữa giáo viên với học sinh, giữa các học sinh Khá-Giỏi-Trung bình-Yếu được rút ngắn hơn. Lớp học sẽ tăng thêm bầu không khí gần gũi và thân thiện.

Điều cần lưu ý là mọi kết nối, mọi cuộc giao tiếp được thiết kế phải căn cứ vào mục tiêu cần đạt của bài học. Không sa đà, làm loãng vấn đề cốt lõi của văn bản thông tin đang đọc hiểu.

3. Một ví dụ về dạy học văn bản thông tin

Dưới đây là một ví dụ về cách dạy học bài Bức thư của thủ lĩnh da đỏ (SGK Ngữ văn 6, tập hai). Trong văn bản có hai vấn đề cần giải quyết là: Sự khác biệt đối lập trong cách sống, trong thái độ đối với Đất, đối với thiên nhiên giữa người da đỏ và người da trắng; Thông điệp nêu lên vấn đề có ý nghĩa toàn nhân loại: Con người phải sống hòa hợp với thiên nhiên, phải chăm lo bảo vệ môi trường và thiên nhiên như bảo vệ mạng sống của chính mình. Cuộc giao tiếp sẽ được thực hiện trên cơ sở cùng một vấn đề nhưng có nhiều điểm nhìn khác nhau. Học sinh nêu ý kiến cá nhân theo các mẫu phiếu do giáo viên thiết kế: 

Mẫu 1: Vấn đề “Sự khác biệt đối lập trong cách sống, trong thái độ đối với Đất, đối với thiên nhiên giữa người da đỏ và người da trắng”:

Mẫu phiếu số 1: Sự khác biệt đối lập trong cách sống, trong thái độ đối với Đất, đối với thiên nhiên giữa người da đỏ và người da trắng

Mẫu 2: Thông điệp nêu lên vấn đề có ý nghĩa toàn nhân loại: Con người phải sống hòa hợp với thiên nhiên, phải chăm lo bảo vệ môi trường và thiên nhiên như bảo vệ mạng sống của chính mình.

Ý kiến 1: Đất đai là của ta, ta muốn làm gì trên đất đai là quyền của người sở hữu.Ý kiến 2: Đất đai không sinh sôi thêm khi con người sinh sôi nảy nở. Bởi vậy cần phải bảo vệ đất đai.
Ý kiến 3:Đất đai cùng với thiên nhiên là vốn quý. Hãy chung tay bảo vệ đất đai và thiên nhiên quanh ta.Ý kiến 4: Hãy bảo vệ thiên nhiên vì thiên nhiên cung cấp cho con người nhiều nguồn tài nguyên quý giá.
Ý kiến của em:
Mẫu phiếu số 2: Thông điệp nêu lên vấn đề có ý nghĩa toàn nhân loại

Đất đai cùng với mọi vật liên quan với nó- bầu trời, không khí, dòng nước, động vật, thực vật- là thiêng liêng đối với người da đỏ, là bà mẹ của người da đỏ nên không dễ gì đem bán. Cách đối xử của người da trắng mới nhập cư đối với đất là hoàn toàn đối lập với người da đỏ, nếu người da đỏ buộc phải bán đất thì người da trắng cũng phải đối xử với đất như người da đỏ. “Đất là mẹ” của loài người, điều gì xảy ra với đất đai tức là xảy ra với những đứa con của đất, vì vậy cần phải biết kính trọng đất đai. Con người phải sống hòa hợp với thiên nhiên, chăm lo bảo vệ thiên nhiên như bảo vệ mạng sống của chính mình.

Đây là câu hỏi liên hệ thực tiễn. Học sinh có thể có những ý kiến trái chiều nhau trong cuộc giao tiếp này. Giáo viên tổ chức cho học sinh trao đổi, thảo luận và chốt: Phải bảo vệ thiên nhiên như bảo vệ mạng sống của chính mình. 

Chiến thuật “cuộc giao tiếp văn học” có thể giúp giáo viên kiến tạo những giờ dạy học đọc hiểu văn bản thông tin sinh động, hấp dẫn, phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh, nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay. 

PHÂN BIỆT DANH TỪ VÀ ĐẠI TỪ

Phan biet danh tu va dai tu

Phân biệt danh từ và đại từ dựa vào tình huống giao tiếp

Tình huống: Trong Tiếng Việt, nhiều danh từ được dùng làm đại từ xưng hô. Vậy làm thế nào để phân biệt danh từ và đại từ?

Dưới đây là một đoạn trích truyện Dế Mèn phiêu lưu kí của nhà văn Tô Hoài để làm ví dụ:

“Bởi i ăn uống điều độ và làm việc có chừng mực nên tôi chóng lớn lắm. Chẳng bao lâu, tôi đã trở thành một chàng dế thanh niên cường tráng. Đôi càng tôi mẫm bóng. Những cái vuốt ở chân, ở khoeo cứ cứng dần và nhọn hoắt…”

Từ “tôi” trong đoạn văn trên là đại từ hay là danh từ? Có người cho rằng Tôi là đại từ, có người lại cho rằng Tôi  là danh từ chỉ người kể chuyện. (Ví dụ: Cháu chào bác- từ bác là danh từ). Chúng ta cùng tìm hiểu vấn đề:

  1. Danh từ

Theo định nghĩa của SGK Ngữ văn 6 – NXB Giáo dục Việt Nam do Nguyễn Khắc Phi tổng chủ biên, Danh từ là những từ chỉ người, vật, hiện tượng, khái niệm…Danh từ có thể kết hợp với từ chỉ số lượng ở phía trước, các từ này, ấy, đó, ở phía sau và một số từ ngữ khác để lập thành cụm danh từ. (Sách đã dẫn- trang 87).

Theo Từ điển Tiếng Việt: của Viện Ngôn ngữ học, do Hoàng Phê chủ biên: Danh từ 1. Từ chuyên biểu thị ý nghĩa sự vật, đối tượng, thường làm chủ ngữ trong câu. “người”, “nhà”, “tinh thần”,  “Việt Nam” là những danh từ. 2. Từ hoặc tổ hợp từ chuyên dùng để gọi tên sự vật hoặc biểu đạt khái niệm thường trong lĩnh vực chuyên môn. (Sách đã dẫn- trang 242).

  1. Đại từ

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, đại từ hay còn gọi là đại danh từ là một dạng thay thế cho một danh từ (hoặc danh ngữ) có hoặc không có từ hạn định. Ví dụ youthey trong tiếng Anh.

Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do Hoàng Phê chủ biên: Đại từ: Từ dùng để chỉ một đối tượng, một điều đã được nói đến, hay là một đối tượng, một điều nào đó trong hoàn cảnh nói năng nhất định. “Tôi”, “nó”, “đây”, “ấy”, “gì”, đều là đại từ. (Sách đã dẫn- trang 281).

Kết luận về việc phân biệt danh từ và đại từ

Từ “tôi” trong trường hợp trên là đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất. “Tôi” không thể là danh từ, chỉ người kể chuyện.

Trong câu “Cháu chào bác”, từ “bác” là đại từ ngôi thứ hai- người đang đối thoại với mình. Từ “bác” ở đây hoàn toàn mang tư cách đại từ. Chỉ có điều, từ “bác” vốn có gốc là danh từ. Người Việt Nam chúng ta khi xưng hô vẫn thường dùng các danh từ chỉ quan hệ thân tộc (ông, bà, anh, chị, chú, thím,…) vào vai trò đại từ. Vậy nên vẫn có người không coi đây là đại từ một cách “chính danh”. Có người thận trọng thì sau khi xếp những từ đó vào đại từ rồi thì chú thích: danh từ chỉ quan hệ thân tộc được dùng như đại từ. Chúng ta cần nhìn vào bản chất để khái quát cho chính xác. Các từ ông, bà, bác, bá, chú, thím, anh, chị… khi dùng để xưng hô thì nó hoàn toàn mang từ cách đại từ và nó phải được xếp vào hàng của đại từ. 

Tóm lại, khi cần phân biệt đại từ, cụ thể, loại đại từ vốn là danh từ chỉ quan hệ thân tộc, về nguyên tắc, hễ dùng để xưng hô thì nó nghiễm nhiên là đại từ. Các từ chỉ thân tộc, một số từ chỉ các quan hệ khác hoặc chỉ các chức danh, khi dùng để xưng hô thì cũng là đại từ: giáo sư, thủ tướng, bộ trưởng, bác sĩ, nhà giáo, thầy, cô,… Và chỉ khi dùng để xưng hô thôi, nếu không nó lại là danh từ.

 Ví dụ: (1). (Phóng viên): Thưa thầy, thầy đánh giá như thế nào về giáo dục Việt Nam hiện nay? (thầy là đại từ). 

(2). Trường em vừa có thêm hai thầy dạy Toán (thầy là danh từ).

TRÁN THI SĨ VƯỢT MÂY NHƯNG TRONG RUỘT THƠ VẪN CHÁY LÊN NGỌN LỬA ĐỜI RẤT ẤM

Tran thi si cham may nhung trong ruot tho van chay len ngon lua doi rat am

“Trán thi sĩ vượt mây nhưng trong ruột thơ vẫn cháy lên ngọn lửa đời rất ấm” (Xuân Diệu)

Nói về thơ Nguyễn Trãi, nhà thơ Xuân Diệu cho rằng” Trán thi sĩ chạm mây nhưng trong ruột thơ vẫn cháy lên ngọn lửa đời rất ấm”. Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Bằng những hiểu biết về thơ Nguyễn Trãi, hãy làm sáng tỏ.

Cứ như là biển rì rầm, là gió mênh mang, cứ như chiều về đong đầy trong đôi mắt ưu tư của bao người một niềm xúc cảm, có phải văn học là chốn tìm về của những trái tim rung động, là thứ ánh sáng diệu kì rọi vào sâu thẳm cõi lòng người? Lang thang trong những nẻo đường văn học, ta bắt gặp cái nhẹ nhàng, giản dị mà thanh cao toát ra từ hồn thơ Nguyễn Trãi-một nhà thơ lớn của dân tộc. Những tác phẩm ông để lại cho đời tựa như đang cựa mình thức giấc, hướng tới chỗ sâu kín, thiết tha và cao đẹp nhất trong tâm hồn người, làm khơi dậy bao nhiêu tình cảm đẹp. Nó xứng đáng là những vì sao rực rỡ nhất trong bầu trời lấp lánh bao vì tinh tú của thi ca dân tộc. Nhận xét về thơ Nguyễn Trãi, Xuân Diệu viết: “Trán thi sĩ chạm mây nhưng trong ruột thơ vẫn cháy lên ngọn lửa đời rất ấm”.

Cho dù dòng thời gian chảy trôi theo quy luật nghiệt ngã của nó có thể khiến nhiều thứ chìm vào lãng quên. Nhưng những vần thơ thấm đẫm tình đời, tình người của Nguyễn Trãi thì sẽ sống mãi trong trái tim của bao người. Sự nghiệp văn chương của ông góp vào dàn đồng ca văn học những tiếng đàn tuyệt diệu mãi ám ảnh, lưu luyến, vấn vương trong tâm hồn của bao người. Hình ảnh “Trán thi sĩ chạm mây” chỉ tư tưởng thanh cao, thoát tục, không màng danh lợi, phú quý. Ông luôn muốn từ bỏ chốn đua chen, thị phi để trở về thiên nhiên, với cỏ cây hoa lá để tìm sự thanh sạch cho tâm hồn. Nhưng trở về với thiên nhiên không có nghĩa là ông quay lưng với cuộc đời, rũ bỏ tất cả mọi thứ mà trái lại, thơ Nguyễn Trãi lúc nào cũng “cháy lên ngọn lửa đời rất ấm”. Trong sâu thẳm cõi lòng, ông luôn đau đáu hướng về cuộc đời, hướng về dân, về nước bằng một tình yêu tha thiết.

Dù cuộc đời bị bọn gian thần ghen ghét, ganh đua nhưng Nguyễn Trãi vẫn như đóa sen thanh cao, trong sạch nở giữa chốn bùn lầy. Nhà thơ như con ong cần mẫn bay lượn trong khu rừng để hút mật ngọt từ cảnh sắc thiên nhiên, cuộc đời để làm no nê cho thơ. Từng câu, từng chữ ngân vang, xuyên thấm vào tâm hồn người những cảm xúc dạt dào chảy mãi không thôi. Bằng những vần thơ sâu lắng, thi sĩ đã dẫn ta vào thế giới của cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp. Nơi bình yên, thanh tĩnh, nơi những tư tưởng thanh cao, thoát tục thăng hoa.

Tâm hồn Nguyễn Trãi chợt xao xuyến bởi những lời gọi thiết tha, giục giã của thiên nhiên Côn Sơn:

“Côn Sơn suối chảy rì rầm

Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai

Côn Sơn có đá rêu phơi

Ta ngồi trên đá như ngồi nệm êm

Trong rừng thông mọc như nêm

Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm

Trong rừng có bóng trúc râm

Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn”.

(Côn Sơn ca)

Trong cảm nhận của nhà thơ, cảnh vật hiện ra thật thơ mộng, trữ tình, thanh bình, yên ả. Với Ức Trai, suối là đàn, rêu là chiếu, bóng râm làm giường, bóng trúc là nơi ngâm thơ. Ông thả hồn vào thiên nhiên như người bạn tâm tình.

Trong những trang thơ, Nguyễn Trãi hiện lên với một phong thái ung dung, nhàn tản, vui với cảnh sống đơn sơ và mộc mạc, giản dị ở chốn thôn quê:

“Ao cạn vớt bèo cấy muống

Đìa thanh phát cỏ ương sen”

Hiện ra trước mắt chúng ta không phải là một công thần khanh tướng mà là một lão nông tri điền sớm chiều vác cuốc ra vườn để mà “cấy muống”, “ương sen”. Hai câu thơ gợi ta liên tưởng đến lối sống nhàn dật của Nguyễn Bỉnh Khiêm:

“Một mai, một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dù ai vui thú nào”

hay lối sống giản dị, thanh cao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm tháng gian khổ:

“Sáng ra bờ suối tối vào hang

Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng”

Nguyễn Trãi đã để trái tim mình hòa vào thiên nhiên, vui thú với cảnh sắc dân dã mà không vướng bận chuyện đời. Nguyễn Mộng Tuân từng viết về Nguyễn Trãi: Gió tây hây hẩy gác vàng… người như một ông tiên ngồi trong tòa ngọc. Cái tài hay làm đẹp cho đất nước từ xưa chưa có bao giờ”. Thật vậy, Nguyễn trãi như ông tiên ngồi trong lầu ngọc, thả hồn mình vào thiên nhiên, đón nhận thiên nhiên bằng tất cả tâm hồn. Ức Trai yêu thiên nhiên đến độ sợ làm bị thương cảnh vật. Ông nâng niu từng mảnh trăng muộn, từng cánh hoa tàn:

“Viện có hoa tàn chăng quét đất

Nước còn nguyệt hiện sá thôi chèo”

Về với ruộng vườn, với sông nước khói mây, thả mình vào thiên nhiên tạo vật nhưng Nguyễn Trãi không bao giờ quay lưng với cuộc sống. Thơ ông vẫn luôn bừng cháy một “ngọn lửa đời rất ấm”, luôn thường trực một tấm lòng âu lo cho dân, cho nước, cháy bỏng một khát khao làm cho đất nước thanh bình, cuộc sống của nhân dân giàu đủ. Ông mơ ước có cây Ngu cầm gảy lên khúc Nam phong cho cuộc sống của nhân dân được vui vầy, hạnh phúc:

” Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng

Dân giàu đủ khắp đòi phương”

Trong khoảnh khắc ấy, Nguyễn Trãi bỗng hóa thành cây đàn họ Ngu, chỉ cần ngân lên là phép lạ sẽ rưới xuống muôn dân một trời mưa hạnh phúc. Đó là khát khao sâu kín và cháy bỏng suốt một đời của Nguyễn Trãi. Tấm lòng Nguyễn Trãi lúc nào cũng đau đáu hướng về đất nước, về nhân dân. Tấm lòng Nguyễn Trãi lúc nào cũng đau đáu hướng về đất nước, về nhân dân. Ông gọi đó là lòng ưu ái, lòng trung hiếu không lúc nào phôi phai được:

“Bui một tấc lòng ưu ái cũ

Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông”.

Cõi thơ Ức Trai luôn dào dạt một tấm lòng yêu đời tha thiết. Dù ở trong bất kì hoàn cảnh nào, ông vẫn tha thiết hướng đến cuộc đời, vẫn khát khao hòa nhập với cuộc sống. Ông viết trong bài thơ “Cảnh ngày hè” những vần thơ dào dạt sức sống:

“Lao xao chợ cá làng ngư phủ

Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”.

Tiếng “lao xao” chợ cá là âm thanh bình thường và gần gũi biết bao, nó gợi vẻ nhộn nhịp, náo nức của cuộc sống thường nhật. Nguyễn Trãi đang lắng nghe những âm thanh bình dị từ cuộc sống đủ thấy tâm hồn ông gần gũi, gắn bó với nhân dân biết chừng nào. Cái buồn bã thường thấy của lầu tịch dương như bị xua tan bởi cái réo rắt của tiếng cầm ve. Câu thơ gợi nhắc đến những vần thơ Tố Hữu:

“Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình”.

Nhắc đến Nguyễn Trãi là nhắc đến một trái tim suốt đời âu lo cho dân cho nước; nhắc đến tư tưởng nhân nghĩa với chiều sâu và tầm cao giá trị xuyên suốt mấy trăm năm; nhắc đến tình đời, tình người thiết tha, sâu nặng như Tố Hữu từng viết:

“Nghe hồn Nguyễn Trãi phiêu diêu

Tiếng gươm khua tiếng thơ kêu xé lòng”.

Oan án Lệ Chi Viên đã giết chết một thiên tài nhưng những gì ông để lại cho dân cho nước thì muôn đời bất tử. Con người ấy, hồn thơ ấy mãi mãi là cây đại thụ tỏa bóng mát cho ngàn sau. Nguyễn Trãi sẽ sống mãi trong lòng bạn đọc cũng như ngọn lửa đời đời mãi cháy trong thơ ông.

Trần Thị Đinh Huệ

Ở ĐÂU CÓ LAO ĐỘNG THÌ Ở ĐÓ CÓ SÁNG TẠO RA NGÔN NGỮ

Tran thi si cham may nhung trong ruot tho van chay len ngon lua doi rat am

Ở đâu có lao động thì ở đó có sáng tạo ra ngôn ngữ…

“Ở đâu có lao động thì ở đó có sáng tạo ra ngôn ngữ. Nhà văn không chỉ học tập ngôn ngữ của nhân dân mà còn là người phát triển ra ngôn ngữ sáng tạo. Không nên ăn bám vào ngôn ngữ của người khác. Giàu ngôn ngữ thì văn hay  (…). Cũng cùng một vốn ngôn ngữ ấy, nhưng sử dụng nó sáng tạo thì văn sẽ có bề thế và kích thước. Dùng chữ như đánh cờ tướng, chữ nào để chỗ nào phải đúng vị trí của nó. Văn phải linh hoạt. Văn không linh hoạt là văn cứng đơ, thấp khớp”. (Nguyễn Tuân)

Bình luận ý kiến trên đây của nhà văn Nguyễn Tuân và bằng thực tế cảm nhận văn học của mình làm rõ những vấn đề mà nhà văn đặt ra.

(Đề thi chọn học sinh giỏi Văn toàn quốc năm học 1994-1995, bảng B).

Bài làm

          Âm nhạc sẽ không xuất hiện và sẽ không làm rung động lòng người nếu cuộc sống không kì diệu với muôn nghìn âm thanh trầm bổng. Âm thanh là phương tiện biểu hiện của âm nhạc cũng như ngôn ngữ làm nên thế giới văn chương. Nhà văn là kĩ sư tâm hồn với chất liệu ngôn ngữ trong tay, phải học hỏi, sáng tạo để cấu thành tác phẩm. Tác phẩm có thể trở thành vốn liếng tinh thần quý báu của nhân loại hay không tùy thuộc vào nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật biểu hiện. Nghệ thuật văn chương là nghệ thuật biểu hiện ngôn từ. Tìm hiểu, khám phá và sáng tạo không ngừng để mỗi dòng, mỗi chữ viết ra đều được chắt lọc tinh tế, độc đáo đủ sức thuyết phục lòng người và lắng động lại với thời gian, cuộc sống. Nhà văn Nguyễn Tuân khẳng định với những người viết văn trẻ:

“ Ở đâu có lao động thì ở đó có sáng tạo ra ngôn ngữ. Nhà văn không chỉ học tập ngôn ngữ của nhân dân mà còn là người phát triển ra ngôn ngữ sáng tạo. Không nên ăn bám vào ngôn ngữ của người khác. Giàu ngôn ngữ thì văn sẽ hay (…). Cũng cùng một vốn ngôn ngữ ấy, nhưng sử dụng nó sáng tạo thì văn sẽ có bề thế và kích thước. Dùng chữ như đánh cờ tướng, chữ nào để chỗ nào phải đúng vị trí của nó. Văn phải linh hoạt. Văn không linh hoạt là văn cứng đơ, thấp khớp”.

          Văn chương là tiếng nói của tâm hồn, dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, văn chương cũng muốn đem cái đẹp vào cuộc sống. Thế giới bao la với muôn nghìn sự kiện luôn sôi động, văn học là tấm gương phản ánh hiện thực cuộc sống nhưng là sự phản ánh có chọn lọc. Thế giới khách quan được nhìn qua thế giới chủ quan của tác giả, hiện thực sinh động được khái quát cụ thể, độc đáo trong tác phẩm văn chương. Nhà văn chân chính làm con ong miệt mài đi hút nhụy hoa, sương đêm lắng động để làm nên mật ngọt cho đời, và ngôn ngữ là phương diện thiết yếu giúp nhà văn sản sinh ra hương mật văn chương. Bông hoa kia, dù ngọt ngào hương sắc đến đâu, giọt sương đêm dù tinh sạch hơn cả khí trời, vẫn là vô dụng nếu chú ong không thể tạo những giọt mật thơm lành.

          Văn chương bắt nguồn từ lao động và qua lao động, con người sáng tạo ra ngôn ngữ. Con người dùng ngôn ngữ để giao tiếp, qua cách nói, viết thư, trao đổi. Nhưng cuộc sống vốn vận động và phát triển không ngừng, không chỉ dừng lại ở mức độ giao tiếp ấy, ngôn ngữ được sử dụng đa dạng hơn, mang tính thẩm mĩ cao hơn, đó là ngôn ngữ văn chương. Tiếng nói tình cảm của con người mang nhiều sắc thái, cung bậc khác nhau, ngôn ngữ cũng biến hóa kì diệu khôn lường để đáp ứng nhu cầu bày tỏ ấy. Từ thủa xa xưa, khi chưa có chữ viết, dân gian ta sáng tạo nên dòng văn chương truyền miệng, và từ đó đến nay, những tác phẩm dân gian vẫn tồn tại. Thế mới biết sức sống của ngôn ngữ mãnh liệt đến nhường nào! Lao động giúp con người tồn tại và lao động giúp con người sáng tạo ra ngôn ngữ để giao tiếp, bày tỏ cảm xúc. Những ngôn ngữ từ thủa mới khai sinh chỉ là một thứ tiếng nói thô sơ. Văn chương là một loại hình nghệ thuật ra đời giúp con người tìm đến với nhau. Nhà văn qua tác phẩm bày tỏ tâm tư, ước vọng với cuộc đời và con người trong xã hội.

          Ngôn ngữ của cuộc đời thường là một loại quặng còn lẫn tạp chất. Nhà văn làm công việc của người tình nguyện loại bỏ những chất thải để đúc lại thứ kim loại hoàn hảo hơn, đủ sức lóng lánh phản chiếu tâm hồn. Nhà văn Nguyễn Du là đứa con máu thịt của dân tộc Việt Nam, tác giả sinh ra, lớn lên trong lòng tiếng Việt, ấp ủ, nuôi dưỡng “nỗi đau đời” để tạo nên tác phẩm Truyện Kiều bất diệt. Tác phẩm cũng là ngôn ngữ của nhân dân, thứ ngôn ngữ mà chúng ta hiểu và cảm thông sâu sắc. Đã mấy thế kỉ trôi qua, Truyện Kiều vẫn được đánh giá là một viên ngọc toàn bích về nghệ thuật, không một vết xước, không chút bụi mờ. Phải chăng Nguyễn Du đã làm công việc gạn lọc ngôn ngữ đời thường, tinh luyện, nâng niu từng chữ, từng câu để tạo nên vẻ đẹp tuyệt diệu đó? Nhưng dù có gạn lọc đến đâu, có đãi cát tìm vàng đi chăng nữa thì vốn liếng ấy cũng là ít ỏi so với một tác phẩm vĩ đại, cái tài, cái khổ luyện như của Tố Như nào ở chỗ tác giả “không chỉ học tập ngôn ngữ của nhân dân mà còn là người phát triển ra ngôn ngữ có sáng tạo”. Quả thật, nếu không làm được công việc đó, Truyện Kiều sẽ không được truyền tụng và hấp dẫn đến tận hôm nay. Hơn hai trăm năm, Truyện Kiều vẫn khiến muôn thế hệ phải rỏ từng giọt lệ xuống thương nàng Kiều. Ngôn ngữ Truyện Kiều đầy sức lay động, thuyết phục đến mức không thể nào thay thế được nữa. Nguyễn Du đã sử dụng và phát triển, sáng tạo ngôn ngữ có sức sống lâu bền nhất, hoàn hảo nhất. Từ một câu thơ chữ Hán của Thôi Hiệu, Nguyễn Du chuyển sang chữ Nôm đã trở nên đậm đà, gần gũi với dân tộc:

Nhân diện bất tri hà xứ khứ

Đào hoa y cựu tiếu đông phong

                                               (Đề đô thành Nam Trang- Thôi Hiệu)

Trước sau nào thấy bóng người

Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông

                 (Kim Trọng trở về vườn Thúy-Nguyễn Du)

Câu thơ chữ Hán là tâm trạng của Thôi Hiệu trước cảnh cũ nhớ người xưa, nhưng vào ngòi bút của Tố Như bỗng bồi hồi xao xuyến tâm trạng chàng Kim nhớ thương người yêu. Tài năng của nhà thơ không chỉ là sự phát hiện sáng tạo ra cái mới mà còn là cách sử dụng tài tình, biến cái cũ thành cái mới mang sắc thái nhuần nhị hơn biểu cảm hơn. Nhưng con người vốn phong phú, đa dạng, đòi hỏi phải có nhiều cách biểu hiện khác nhau. Ngôn ngữ văn chương là tiếng nói riêng của mỗi nhà văn về cuộc đời-nó phải chinh phục người đọc. Cùng một sự việc nhưng mỗi góc độ sẽ có cách nhìn khác nhau. Văn chương nếu chỉ là lặp lại thì sẽ không tồn tại được lâu dài. Nhà văn phải sống cuộc sống với nhân dân. Cuộc đời là trường học của những nhà văn tâm huyết, cuộc đời sẽ giúp nhà văn tích lũy được vốn sống, ngôn ngữ phong phú. Tư tưởng dù có vĩ đại bao nhiêu mà nghèo nàn biểu hiện thì cũng trở nên vô ích. Nội dung phải phù hợp với hình thức. Hai yếu tố thống nhất sẽ làm nên một tác phẩm hoàn chỉnh cũng như tư tưởng lớn được diễn đạt với một vốn ngôn ngữ đa dạng, hình thức thích hợp. Cùng một giọt nước mắt của nàng Kiều nhưng mỗi lần Kiều khóc, Tố Như lại có một cách diễn đạt khác nhau. Và cứ thế, từ đầu đến cuối tác phẩm, người đọc bị cuốn hút, say mê, bị dằn vặt bởi nỗi đau nàng Kiều, mà mỗi lần cay đắng khác nhau, muôn hình muôn vẻ, phức tạp như chính cuộc sống thực. Cũng là nỗi niềm cô đơn làm Kiều trăn trở, day dứt thâu đêm, nhưng trong mỗi hoàn cảnh, sự cô quạnh đó nhuốm sắc thái thật riêng:

Một mình mình biết một mình mình hay.

          Câu thơ tám chữ với bốn lần lặp lại chữ mình sao chua xót, bẽ bàng đến thế! Ngôn ngữ trong tay Nguyễn Du biến hóa diệu kì như vẻ đẹp tiếng Việt thâu tóm dưới đầu ngọn bút: “Nỗi riêng riêng chạnh tấc riêng một mình”. Với những chữ “riêng” lặp lại đến ba lần. Tố Như làm người đọc phải giật mình thảng thốt vì thương cho phận nàng Kiều. Ngôn ngữ trong Đoạn trường tân thanh chẳng những giàu mà lại đẹp đến mức diệu kì. Nếu Nguyễn Du không tích lũy được cho mình một “đội quân từ ngữ” hoàn chỉnh đến thế thì truyện Kiều rất dễ làm người đọc nhàm chán biết bao. “Giàu ngôn ngữ thì vẫn sẽ hay” nhưng có vốn mà không biết sử dụng thì chỉ như nhà giàu giữ của. Ngôn ngữ của cuộc đời thường vào tác phẩm phải là những dòng ngôn ngữ văn chương giàu tình cảm, giàu sức biểu hiện. Có những từ là “nhãn tự” của thơ thì mới có những khổ thơ, bài thơ xuất thần, độc đáo. Nhà văn làm công việc chọn lựa ngôn từ sao cho từ nào đắc ý nhất, đúng chỗ của nó nhất. Khi miêu tả Thúy Kiều với đôi ba nét, Nguyễn Du đã báo trước số phận của nàng:

Làn thu thủy nét xuân sơn

Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.

(Trích Chị em Thúy Kiều)

Những sinh vật vô tri làm sao có thể ghen, hờn trước nhan sắc con người. Hay phải chăng định mệnh trớ trêu đã để mắt tới người con gái tài sắc vẹn toàn ấy. Chỉ dùng một hai chữ thôi nhưng đủ sức diễn tả, dự báo cả cuộc đời nhân vật, thế chẳng là tài tình lắm sao!

Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như

(Trích Độc Tiểu Thanh kí)

Tiếng “khấp” của thi hào vĩ đại Việt Nam vẫn vang vọng hằng bao thế kỉ, đi giữa lòng người để nói về nỗi đau đời chất chứa trong tim. Nhà văn không sử dụng tiếng “khốc” mà lại là tiếng “khấp”: tiếng nức nở trong tâm hồn, mặn xót, tái tê, nước mắt chảy ngược vào hồn nên ngàn năm còn thương, còn xót. Tố Như để lại cho đời sau mọt di sản tinh thần đồ sộ và phong phú, đọc văn chương của ông ta không thể lơ là khi sử dụng tiếng Việt. Ngôn ngữ làm nên văn chương và văn chương có sức mạnh xây dựng hay tàn phá. Phải trân trọng và biết sử dụng ngôn ngữ thì mới có thể sáng tác nên những tác phẩm hay, độc đáo.

          Văn chương là tấm gương phản ánh cuộc sống nhưng không có nghĩa là bê nguyên cuộc sống vào tác phẩm, mà văn chương tái hiện và tái tạo cuộc sống.

          Nhà văn phải nói lên khát vọng của nhân dân, dự báo mọi điều đang đến và sẽ đến trong tương lai. Do đó, văn chương là loại hình nghệ thuật tuyệt vời nhất, đậm đà tình cảm nhất. muốn văn chương thật gần gũi với quần chúng, nhà văn phải nói lên được khát vọng của họ với cuộc đời, sao cho mỗi tác phẩm đều đem đến cái đẹp cho cuộc đời. “Văn phải linh hoạt. Văn không linh hoạt gọi là văn cứng đơ thấp khớp”. Sự linh hoạt của văn chương tức là sự linh hoạt của nhà văn khi lao động, sáng tạo nghệ thuật, sao cho mỗi hình tượng nghệ thuật đều có sức trường tồn với thời gian.

          Văn chương nếu bê nguyên cuộc đời vào tác phẩm thì chẳng có gì đáng nói, mà nói phải là “người lạ mà quen biết” (Biêlinxki). Nhà văn, nhà cảm nhận cuộc sống theo cách riêng của mình, đôi khi điều đó trái với quy luật nhưng lại phù hợp với tâm hồn người, nó được bạn đọc chấp nhận:

Ngoài thềm rơi chiếc lá đa

Tiếng rơi nghe mỏng như là rơi nghiêng.

                                           (Đêm Côn Sơn-Trần Đăng Khoa)

          Với cảm nhận độc đáo của mình, Trần Đăng Khoa đã táo bạo nghe âm thanh (thính giác) bằng đôi mắt (thị giác). “Tiếng rơi rất mỏng” như vết cắt nhẹ nhàng của chiếc lá phiến diện “rơi nghiêng”; đêm sau chiến tranh không gian lại yên tĩnh đến thế ư? Cách diễn đạt, sử dụng ngôn từ mới mẻ của mình đã làm nên một hiện tượng ngôn ngữ thật đẹp.

          Ngôn ngữ trong văn chương đa dạng, phức tạp như chính cuộc sống hằng ngày. Qua bàn tay tôi luyện của nhà văn, ngôn ngữ ấy làm nên sự phong phú của văn chương. Lời khẳng định của Nguyễn Tuân là một lời khuyên đáng quý cho những người bước vào ngưỡng cửa viết văn và cả cho những ai yêu thích sự sáng tạo văn chương. Nhưng điều đó không có nghĩa là rơi vào chủ nghĩa hình tượng, bỏ quên nội dung tư tưởng tác phẩm, mà một tác phẩm hay là sự kết hợp hoàn hảo giữa nội dung và hình thức nghệ thuật, sao cho đó là những bông hoa hương sắc vẹn toàn. Và muốn nghiên cứu ngôn ngữ văn chương ta sẽ luôn nhớ đến lời khuyên của nhà văn Vang bóng một thời:

“Ở đâu có lao động thì ở đó có sáng tạo ra ngôn ngữ…”

(Nguyễn Thị Bích Ngọc- Cần Thơ).

ĐÁP ÁN CUỘC THI ONLINE “AN TOÀN GIAO THÔNG CHO NỤ CƯỜI NGÀY MAI” DÀNH CHO GIÁO VIÊN THCS, THPT

Cuộc thi online "An toàn giao thông cho nụ cười ngày mai"

Phần thi trắc nghiệm

Câu 1- chọn đáp án D

Câu 2- chọn đáp án D

Câu 3- Chọn đáp án C

Câu 4- Chọn đáp án D

Câu 5- Chọn đáp án A

Câu 6- Chọn đáp án C

Câu 7- Chọn đáp án C

Câu 8- Chọn đáp án D

Câu 9- Chọn đáp án B

Câu 10- Chọn đáp án C

Phần thi tự luận-Làm thành file đính kèm, nội dung như sau:

Kế hoạch giảng dạy nội dung giáo dục an toàn giao thông

1. Mục tiêu

– Tuyên truyền sâu rộng các quy định an toàn giao thông đến mọi người, đặc biệt là các em học sinh.

– Nâng cao ý thức chấp hành luật giao thông của toàn thể học sinh trong nhà trường.

– Giáo dục học sinh các em nhận thức đúng, nghiêm chỉnh chấp hành luật giao thông để bảo vệ cho sức khỏe của bản thân và những người khác.

– Hạn chế vi phạm luật giao thông, tránh xảy ra tình trạng ùn tắc giao thông khu vực cổng trường.

2. Yêu cầu cần đạt

– Cả giáo viên và học sinh đều phải xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục an toàn giao thông.

– Giáo viên và học sinh phải nghiêm túc thực hiện, chấp hành luật an toàn giao thông.

– Có ý thức tham gia giao thông văn minh, lịch sự, tuyên truyền đến mọi người về luật an toàn giao thông, cũng như văn hóa tham gia giao thông văn minh.

3. Đối tượng tham gia

– Chủ yếu là giáo viên, học sinh và phụ huynh học sinh.

4. Nội dung tuyên truyền giáo dục

– Tuyên truyền về cách đi bộ an toàn.

– Đi xe đạp điện, xe máy, xe gắn máy an toàn.

– Tuyên truyền luật giao thông.

– Đội mũ bảo hiểm khi ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện, xe đạp điện.

– Nhận biết một số biển báo thường gặp trong giao thông.

– Quy định xử phạt sai phạm khi tham gia giao thông.

– HS cam kết thực hiện và chia sẻ với những người thân trong gia đình về các kiến thức, kĩ năng an toàn giao thông đã được học.

5. Hình thức tuyên truyền giáo dục

– Thông qua buổi họp phụ huynh, tuyên truyền đến phụ huynh học sinh, phối hợp giữa giáo viên và phụ huynh cùng nhau giáo dục con em chấp hành luật giao thông.

– Tuyên truyền thông qua các buổi sinh hoạt lớp, sinh hoạt chuyên đề.

– Tạo điều kiện, không gian cho học sinh thực hành ngay tại trường học, dưới sự tham gia hướng dẫn của giáo viên.

– Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu an toàn giao thông, siu tầm, thiết kế tranh, ảnh theo chủ đề an toàn giao thông.

– Tuyên truyền trực quan thông qua: áp phích, băng rôn, tờ rơi, khẩu hiệu, Website của lớp, của trường.

– Thông qua hệ thống phát thanh của nhà trường, phổ biến nội dung luật giao thông và các quy tắc tham gia giao thông an toàn đến học sinh.

– Tích hợp an toàn giao thông trong các môn học chuyên môn.

– Thường xuyên nhắc nhở học sinh thực hiện quy định về ATGT, qua học sinh tuyên truyền đến cha mẹ học sinh.

– Kiểm tra, đánh giá, nhắc nhở, đôn đốc thực hiện các em học sinh. Khen thưởng đối với những tấm gương có ý thức thực hiện, chấp hành tốt.

Câu 2. Trong những năm qua, thầy/cô đã lựa chọn những hình thức nào để giáo dục an toàn giao thông, hình thức giáo dục nào thầy/cô đánh giá là hiệu quả? Vì sao?

Trả lời:

Để giáo dục học sinh được tốt nhất cần phối kết hợp tất cả các hình thức tuyên truyền, giúp các em tiếp cận vấn đề qua nhiều hướng khác nhau, phù hợp với năng lực của từng em học sinh.

Mỗi hình thức đều có giá trị nhất định, rèn luyện, cung cấp kiến thức, kĩ năng về an toàn giao thông cho các em học sinh.

Các hình thức giáo dục an toàn giao thông đem lại hiệu quả hơn cả, đã được tôi áp dụng là:

(1) Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu an toàn giao thông, siu tầm, thiết kế tranh, ảnh theo chủ đề an toàn giao thông

Vì:

– Học sinh được chủ động sáng tạo, tự tìm hiểu kiến thức về an toàn giao thông.

– Rèn luyện kĩ năng tự học, kĩ năng làm việc nhóm cho học sinh.

– Học sinh được thoải mái sáng tạo, tiếp nhận kiến thức, kĩ năng tự nhiên, không khuôn mẫu, gò bó kích thích hứng thú tìm hiểu cho học sinh.

– Đây là hình thức mà các em có thể tự truyên truyền cho nhau, giáo dục cho bản thân và những người xung quanh.

(2) Để học sinh trực tiếp thực hành, trải nghiệm tại khu vực sân trường dưới sự hướng dẫn giám sát của giáo viên

Vì:

– Giúp học sinh được trải nghiệm thực tế, có cái nhìn chân thật, khách quan nhất → Khắc sâu kiến thức.

– Đem lại trải nghiệm thú vị, tạo hứng thú học tập.

(3) Tuyên truyền giáo dục thông qua các buổi sinh hoạt chuyên đề

Vì: Đem lại cho các em học sinh lượng kiến thức đầy đủ nhất, chi tiết nhất.

(4) Phối hợp với cha mẹ học sinh

Vì: Để giáo dục học sinh tốt nhất cần có sự phối kết hợp giữa gia đình và nhà trường. Thầy cô, cha mẹ nghiêm túc chấp hành luật giao thông thì con em mình cũng lấy làm gương noi theo.

1 2