DẠY HỌC SINH CÁCH VIẾT ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI NHƯ THẾ NÀO?

Day viet doan van nghi luan xa hoi nhu the nao?

I/ Tìm hiểu chung về văn nghị luận xã hội

1/ Khái niệm văn nghị luận xã hội

– Nghị luận: là bàn bạc, bàn luận một vấn đề.

– Văn nghị luận xã hội: la bàn bạc các vấn đề đời sống xã hội: đáng khen, đáng chê, đáng suy nghĩ; hay những vấn đề về chính trị, đạo đức, lối sống, tính cách… của con người. Nằm làm rõ đúng, sai, xấu, tốt của vấn đề. Từ đó có thể tìm hiểu một cách thấu đáo để vận dụng vào thực tiễn.

2/ Đặc điểm văn nghị luận xã hội

Bài văn nghị luận xã hội cần phải có những yếu tố sau:

  • Luận đề: Là yêu cầu của đề bài, vấn đề nghị luận cơ bản của bài văn.
  • Luận điểm: Là những ý chính, những tư tưởng, vấn đề chính sẽ bàn luận.
  • Luận chứng, luận cứ: Là dẫn chứng, lí lẽ để chứng minh làm sáng tỏ luận điểm.
  • Lập luận: Cách trình bày luận điểm, luận cứ một cách mạch lạc, rõ ràng, logic theo một trình tự hợp lí.

Lưu ý: Dẫn chứng phải tiêu biểu, giàu sức thuyết phục.

3/ Tìm ý và lập dàn ý cho đoạn văn nghị luận xã hội

Sau khi đọc và tìm hiểu luận đề, ta phải có thao tác lập dàn ý để đoạn văn logic, có trình tự rõ ràng. Lập dàn ý là phải theo một quy trình: Xác định luận điểm, tìm luận cư, tìm dẫn chứng, xây dựng lập luận.

a/ Xác định luận điểm

Một luận đề phải được xác định bằng một hệ thống luận điểm. Để tìm ý được dễ dàng chúng ta nên đặt ra và trả lời các câu hỏi sau:

  • Là gì?
  • Như thế nào?
  • Vì sao? Tại sao?
  • Biểu hiện như thế nào?
  • Ý nghĩa của vấn đề đó đối với cuộc sống và con người?
  • Tác động hoặc tác hại của vấn đề nghị luận đối với cuộc sống và con người?

Ví dụ: Bàn về đức tính trung thực:

  • Trung thực là gì?
  • Biểu hiện của trung thực?
  • Vì sao phải sống trung thực?
  • Ý nghĩa của tính trung thực đối với con người.
  • Bài học liên hệ.

b/ Tìm luận cứ (lí lẽ, dẫn chứng)

Lí lẽ và dẫn chứng là cốt yếu của bài văn nghị luận xã hội. Lí lẽ phải sắc bén, đanh thép, hùng hồn (đảm bảo tính chân lí). Dẫn chứng phải xác thực, chọn lọc, giàu sức thuyết phục (là dẫn chứng trong thực tế đời sống, người thật việc thật).

Ví dụ: Bàn về vai trò của tinh thần đoàn kết

Lí lẽ: Cần trả lời thấu đáo các câu hỏi sau:

 + Biểu hiện của đoàn kết?

+ Vì sao phải đoàn kết?

+ Sức mạnh của đoàn kết?

+ Làm gì để giữ gìn và phát huy tinh thần đoàn kết?

-Dẫn chứng: Nêu các dẫn chứng tiêu biểu:

+ Đoàn kết trong chiến tranh.

+ Đoàn kết trong hòa bình.

+ Đoàn kết trong gia đình, xóm làng, trường lớp, ngoài xã hội, trên thế giới…

c/ Xây dựng lập luận

Xây dựng luận điểm, lí lẽ, dẫn chứng phải theo trình tự, logic, hợp lí, khoa học.

Dùng lí lẽ để giải thích vấn đề:

Ví dụ: Bàn về việc nói dối có hại.

+ Giải thích thuật ngữ: nói dối là gì?

+ Biểu hiện và thực trạng của nói dối?

+ Nguyên nhân và tác hại của việc nói dối?

+ Biện pháp khắc phục và bài học liên hệ?

– Nêu dẫn chứng để chứng minh vấn đề:

+ Có thể lấy dẫn chứng ngoài thực tế (các nhân vật, con người thật, việc thật); có thể lấy dẫn chứng trong văn học (các câu ca dao, tục ngữ, danh ngôn,…).

+ Dẫn chứng phải được nêu ra theo một trình tự hợp lí: từ đơn giản đến phức tạp; từ ít sang nhiều; từ thực tế sang văn học, từ xưa đến nay,…

+ Dẫn chứng phải tiêu biểu, được nhiều người biết đến, có sức thuyết phục.

– Bàn luận mở rộng vấn đề:

+ Có thể bàn luận phản lại vấn đề: mặt trái của vấn đề

Ví dụ: tự tin quá trở thành tự cao tự đại; Siêng năng mà không thông minh sáng tạo sẽ thành phá hoại;…

Như vậy có nghĩa là người viết phải lật đi lật lại vấn đề để bàn luận cho thấu đáo, nhằm thuyết phục người đọc, người nghe.

4/ Cách viết đoạn văn nghị luận xã hội

* Bước 1: Xây dựng câu mở đoạn

Câu mở đoạn thường chỉ dùng một câu (Câu tổng- chứa đựng thôn tin của đề thi yêu cầu. Câu này mang tính khái quát cao).

* Bước 2: Xây dựng thân đoạn

– Giải thích các cụm từ khóa, giải thích các thuật ngữ (giải thích nghĩa đen, nghĩa bóng, cần ngắn gọn, đơn giản).

– Bàn luận: Đặt ra các câu hỏi và trả lời:

+ Vì sao? Tại sao?

+ Biểu hiện như thế nào?

+ Ý nghĩa của vấn đề đó đối với cuộc sống và con người?

+ Tác động hoặc tác hại của vấn đề nghị luận đối với cuộc sống và con người?

+ Sau đó bình luận, chứng minh từng ý lớn (có thể chọn theo các mô típ viết từ: Gia đình, nhà trường, xã hội; hoặc trong học tập, lao động, sinh hoạt hằng ngày…).

+ Đưa ra dẫn chứng phù hợp, ngắn gọn, chính xác (tuyệt đối không kể chuyện rông dài, tán gẫu, sáo rỗng, có thể đưa dẫn chứng thực tế, dẫn chứng văn học).

+ Trong quá trình phân tích dẫn chứng có thể lồng cảm nghĩ, đánh giá, liên hệ.

+ Bàn luận mở rộng: bàn luận phản đề hoặc mở rộng vấn đề- đồng tình hoặc không đồng tình.

+ Bài học nhận thức và hành động: cho bản thân, mọi người.

* Bước 3: Viết kết đoạn

Khái quát lại giá trị của vấn đề nghị luận, rút ra bài học.

* Ví dụ: Bàn về vai trò và tác dụng to lớn của sách trong đời sống tinh thần của con người, nhà văn Mac-xim Gooc-ki có viết: “Sách mở rộng trước mắt tôi những chân trời mới”. Hãy giải thích và bình luận ý kiến trên.

a/ Xác định luận đề

Bài văn cần làm sáng tỏ vấn đề gì?

Quan điểm của chúng ta về vấn đề đó như thế nào?

b/ Xác định các luận điểm

Căn cứ vào đề bài, vào yêu cầu của bài văn và huy động những hiểu biết của mình, em hãy suy nghĩ và trả lời các câu hỏi sau đây:

  • Sách là gì?
  • Sách có tác dụng như thế nào?
  • Thái độ đối với sách và việc đọc sách như thế nào?

c/ Tìm luận cứ cho các luận điểm

Hãy lần lượt trả lời các câu hỏi sau đây:

Đối với luận điểm 1: (Sách là sản phẩm tinh thần kì diệu của con người):

+ Sách là sản phẩm thuộc lĩnh vực nào của con người?

+ Sách phản ánh, lưu giữ những thành tựu gì của nhân loại?

+ Sách có chịu ảnh hưởng của thời gian và không gian không?

– Đối với luận điểm 2 (Sách mở rộng những chân trời mới):

+ Sách đem lại cho con người những hiểu biết gì về tự nhiên và xã hội?

+ Sách có tác dụng như thế nào với cuộc sống riêng tư và quá trình tự hoàn thiện mình?

– Đối với luận điểm 3 (Cần có thái độ đúng đối với sách và việc đọc sách):

+ Thái độ của em đối với các loại sách?

+ Đọc sách như thế nào là tốt nhất?

II/ Kết hợp yếu tố tự sự, biểu cảm và miêu tả vào văn nghị luận xã hội

1/ Các yếu tố tự sự trong văn nghị luận xã hội

Tự sự trong văn nghị luận là tóm tắt, kể lại ngắn gọn các sự việc hoặc câu chuyện để làm dẫn chứng hoặc lí lẽ thuyết phục người đọc, người nghe.

– Ví dụ đoạn văn nghị luận kết hợp yếu tố tự sự:

Đề bài: Bàn luận về nhận định sau bằng đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ): Một người đã đánh mất niềm tin vào bản thân thì chắc chắn sẽ còn đánh mất thêm nhiều thứ quý giá khác nữa.

Bài làm

Câu chuyện về một vị tướng quân khi xuất trận, nhà vua đã hỏi vị tướng ấy như sau: Nếu phải chọn đánh mất trong các điều kiện sau thì tướng quân chọn đánh mất cái gì trước, cái gì sau: quân đội, đất nước, niềm tin? Vị tướng quân ấy trả lời rằng: Tôi sẽ chấp nhận đánh mất quân đội trước, vì nếu mất quân đội thì còn đất nước và niềm tin. Niềm tin của tôi sẽ dây dựng lại cho quân đội; nếu phải mất nhiều hơn thế thì tôi sẽ chấp nhận mất quân đội và đất nước và giữ niềm tin, vì nếu còn niềm tin thì tôi sẽ tập hợp quân đội mà lấy đất nước. Nhưng nếu đánh mất niềm tin mà còn quân đội và đất nước thì không sớm thì muộn tôi sẽ đánh mất tất cả. Đó là sự lựa chọn khôn ngoan nhất! Chính vì thế, sách Dám thành công dạy rằng: “Một người đã đánh mất niềm tin vào bản thân thì chắc chắn sẽ còn đánh mất thêm nhiều thứ quý giá khác nữa”. Vậy Mất niềm tin vào bản thân là gì?

2/ Các yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận xã hội

– Yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận được biểu hiện dưới dạng thức như sau:

+ Tính khẳng định hay phủ định.

+ Biểu lộ các cảm xúc như yêu, ghét, căm giận, quý mến, khen, chê, lo âu, tin tưởng…

+ Giọng văn biểu cảm.

– Ví dụ đoạn văn nghị luận kết hợp yếu tố biểu cảm:

Đề bài: Bàn luận về ý nghĩa của tình mẫu tử trong cuộc sống mỗi người bằng đoạn văn (khoảng 200 chữ).

Bài làm

“Thương con mẹ dệt niềm tin. Cho con ăn học cho mình ước ao. Nỗi lo mẹ cộng thêm vào. Tuổi xuân tươi đẹp mẹ nào tiếc chi”. Tự bao đời nay, tình mẹ luôn được ngợi ca như biển Thái Bình, “như nước trong nguồn chảy ra”. Quả thực vậy, tình mẫu tử là một tình cảm thiêng liêng, cao quý theo ta suốt cuộc đời này. Mẹ là người đã phải trải qua chín tháng mười ngày vất vả khổ cực để sinh thành nên ta, mẹ nuôi dưỡng ta bằng tiếng hát, bằng dòng dòng sữa mát ngọt dịu êm. Mẹ tần tảo lo lắng nuôi dạy cho ta thành người, mẹ như ánh sao rực rỡ soi sáng cuộc đời của ta. Làm sao có thể nói hết công lao to lớn, vĩ đại của mẹ, làm sao gánh hết những vất vả nhọc nhằn mẹ chịu vì con. Mỗi lần cất tiếng gọi mẹ là lòng ta lại dâng trào bao cảm xúc, mẹ – chỉ một từ thôi sao mà thiêng liêng quá đỗi. Mẹ như người thầy, người chị chia sẻ với ta những kinh nghiệm sống, động viên ta những lúc ta buồn, ta thất bại. Mẹ là động lực để ta tin tưởng và có niềm tin vào cuộc đời, mẹ luôn là người dang tay đỡ ta khi ta vấp ngã, khi ta khó khăn. Con là áng mây trôi mềm mại bên mẹ, mẹ là vầng trăng tỏa sáng dịu mát phúc hậu cho cuộc đời con. Được ở bên mẹ, cuộc sống sẽ đẹp hơn bất cứ xứ sở thần tiên nào. Mẹ là bến bờ kì lạ. Bến bờ ấy dường như vô hình nhưng bất tận cho con neo đậu sau những chặng đường mệt mỏi. Con được chở che ôm ấp, được nương tựa suốt cuộc đời. Mẹ không chỉ là vầng trăng dịu mát, phúc hậu; là bến bờ để con neo đậu mà mẹ còn là cánh chim chắp cánh ước mơ cho con bay thật xa, là cành hoa thơm ngát để con cài lên ngực, là ánh sao sáng soi đường trong đêm tối cho con đi. Không ai có thể đong đếm được tình yêu thương của mẹ. Mẹ vất vả, hy sinh cả cuộc đời mình cho ta mà không than thở điều gì. Có những lúc ta cáu giận vô cớ, nặng lời với mẹ, mẹ chỉ im lặng, mẹ lặng lẽ giấu nước mắt trong nụ cười với ta. Mẹ, tình mẹ cao cả và tuyệt vời biết bao! Mỗi chúng ta cần phải biết trân trọng, yêu thương, chăm sóc quan tâm đến mẹ nhiều hơn nữa. Có bao giờ chúng ta để ý đến tóc mẹ đã điểm những sợi bạc? Có hay những nếp nhăn hằn nơi khóe mắt mẹ? Vậy mà vẫn còn nhiều kẻ không biết trân trọng, yêu quý mẹ của mình, có những người con bất hiếu đối xử tệ bạc với mẹ của mình, không làm tròn chữ hiếu, không trọn đạo làm con. Hỡi những ai đang còn có mẹ bên mình, hãy trân trọng từng giây từng phút quý báu bên mẹ để ta không phải rơi những giọt nước mắt hối lỗi muộn màng khi mẹ đã ra đi về bên kia cuộc đời.

3/ Các yếu tố miêu tả trong văn nghị luận xã hội

– Yếu tố miêu tả trong văn nghị luận là các chi tiết miêu tả tái hiện, liên tưởng, so sánh, nhân hóa… các sự vật hiện tượng trong cuộc sống.

– Đoạn văn nghị luận kết hợp yếu tố miêu tả:

– Ví dụ:

Đề bài: Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bàn về lòng yêu thương con người.

Bài làm

Có một gia vị làm tăng thêm hơi ấm và ý nghĩa trong cuộc sống đó chính là tình yêu thương. Nếu có một tình cảm thiêng liêng giúp chúng ta vượt qua bao khó khăn, thử thách đó cũng chính là lòng yêu thương. Vậy lòng yêu thương là gì? Là sự quan tâm, ân cần, đồng cảm, sẻ chia về vật chất và tinh thần. Tình yêu thương là hơi ấm xua tan giá lạnh, là nghị lực giúp con người chống chọi mọi thăng trầm khắc nghiệt của cuộc sống, ươm mầm cho trái tim hoài bão và khát vọng. Để con người không chỉ sống mà còn hạnh phúc trong cuộc sống đó. Những vật vô tri, vô giác như đất, nước, cỏ còn biết sống yêu thương nhau: Đất biết tôn cao nhau để làm nên ngọn núi hiên ngang sừng sững, thách thức thời gian. Nước làm đầy nhau để tạo thành những đại dương mênh mông, lấy đi bao vực thẳm. Cỏ biết đan vào nhau tạo nên những thảo nguyên xanh ngút chân trời. Những loài động vật khác nhau còn có thể yêu thương nhau, huống chi là loài người chúng ta, cùng là nhân loại, cùng sống trên một hành tinh xanh. Có người nghĩ rằng chỉ cần anh ta trên cõi đời là đủ để sống. Xã hội ngày nay luôn bận rộn chạy theo guồng máy của công việc, chạy đua với thời gian, nhưng không vì thế mà tình yêu thương giữa người với người bị đánh mất. Ở đâu đó, còn rất nhiều những tấm lòng chan chứa yêu thương luôn rộng mở. Tình yêu thương trong mỗi gia đình là tiếng ru ngọt ngào giúp mọi thành viên luôn muốn trở về mái ấm, xua tan đi những mệt mỏi của cuộc sống thường nhật. Tình yêu thương của thầy cô, bạn bè giúp chúng ta tự tin hơn, mạnh mẽ hơn trên bước đường đời. Và rồi biết bao những tấm lòng san sẻ tinh thần, vật chất và cả những việc làm dù là nhỏ nhoi để bao em nhỏ có được những trái tim lành lặn. Bao con người có những cặp lá yêu thương. Có những mùa hè xanh trải dọc khắp miền đất hình chữ S thân yêu này để bao mảnh đời bất hạnh được sưởi ấm. Thế nhưng đâu đó vẫn còn những con người máu lạnh, họ thờ ơ, vô cảm với mọi người, thậm chí là ghen ghét hận thù, cay nghiệt… Rồi kết cục, họ cũng chỉ như những hình nộm dù có lộng lẫy, sáng loáng nhưng vẫn vô hồn trống rỗng. Cuộc sống sẽ cho ta yêu thương và tình yêu thương nếu chúng ta viết và vẽ nên cuộc sống bằng tình yêu nhân loại. Cần lắm những tấm lòng dù có thể chỉ là để gió cuốn đi. Hãy luôn yêu thương và bạn sẽ nhận được sự yêu thương.

4/ Hạn định số dòng, số câu cho từng phần trong đoạn văn nghị luận xã hội

-Mở đoạn: 1-2 câu.

-Thân đoạn:

+ Giải thích: 3 dòng

+ Bàn luận: (quan trọng nhất) khoảng 18 dòng

+ Mở rộng vấn đề: khoảng 3 dòng

+Bài học nhận thức và hành động: 1-2 dòng

-Kết đoạn: 1-2 dòng

Bài 200 chữ có thể viết lên 250 chữ (tương đương 20 dòng).

5/ Luyện tập

Trong một lần nói chuyện với học sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Em hãy viết một đoạn văn nghị luận (200-250 chữ) nêu ý kiến của mình về lời dạy của Bác.

Chú ý vận dụng yếu tố tự sự, miêu tả và biểu cảm vào đoạn văn.

PHÂN BIỆT NĂNG LỰC NGÔN NGỮ VÀ NĂNG LỰC VĂN CHƯƠNG

Phan biet nang luc ngon ngu va nang luc van chuong

PGS-TS ĐỖ NGỌC THỐNG

Bên cạnh yêu cầu phát triển phẩm chất và năng lực chung, chương trình Ngữ văn 2018 tập trung hình thành và phát triển hai năng lực đặc thù quan trọng là năng lực ngôn ngữ (NLNN) và năng lực văn học (NLVH). Hai năng lực này đều được thể hiện qua các kĩ năng đọc, viết, nói, nghe. Việc đánh giá NLNN và NLVH cũng phải thông qua các kĩ năng này. Vậy giữa hai năng lực có điểm gì khác nhau?

Về đọc hiểu, yêu cầu của NLNN là đọc hiểu các văn bản thông thường, đơn nghĩa, chủ yếu là văn bản thông tin và một số văn bản nghị luận đơn giản. NLVH cũng yêu cầu đọc hiểu, nhưng là đọc hiểu văn bản văn học, là văn chương hư cấu, là đọc các hình tượng nghệ thuật được tạo nên bởi chất liệu ngôn từ, là văn bản đa nghĩa. Hiểu là quan trọng, từ hiểu mà rung động, cảm nhận, thưởng thức, đánh giá tác phẩm có cơ sở hơn, sâu sắc hơn; biết lí giải cái hay, cái đẹp, chỉ ra cái lí của các hình thức nghệ thuật… Nói cách khác đánh giá, cảm thụ văn học trên cơ sở của đọc hiểu sẽ giúp người đọc thoát khỏi tình trạng thích mà không hiểu vì sao mà mình thích, tình trạng mà nhà phê bình văn học Nga V.Bielinxki (1811-1848) gọi là “sự thích thú đau khổ”.

Tương tự đọc hiểu là viết. Với NLNN là yêu cầu viết các văn bản thông thường, nội dung đơn giản, rõ nghĩa như các văn bản thông tin. Còn viết NLNH là biết tạo ra ý, từ ý đúng đến ý hay, ý sáng tạo mới mẻ, độc đáo. Từ ý tưởng biết sử dụng ngôn ngữ như dùng từ đặt câu, các biện pháp tu từ để diễn đạt ý tưởng một cách hình ảnh, khác lạ, hấp dẫn… NLVH thể hiện ở kĩ năng viết còn là yêu cầu biết tạo ra các sản phẩm mang tính nghệ thuật: bài văn nghị luận, ghi chép, bài văn miêu tả, tự sự… Những học sinh có năng khiếu có thể có các bài thơ, truyện ngắn, bút kí… ngay khi còn trên ghế nhà trường.

Với kĩ năng nói và nghe, NLNN thể hiện qua các yêu cầu giao tiếp thông thường, nói nghe tự tin, rõ ràng, có thái độ phù hợp, gần gũi với ngôn ngữ đời sống… Với NLVH, nói và nghe không chỉ yêu cầu như NLNN mà còn phải biết nói hay, nói có sức thuyết phục, biết kết hợp lời nói và ngôn ngữ hình thể; từ nói đúng, nói hay đến diễn thuyết hấp dẫn, hùng biện.

Từ sự phân biệt tương đối nêu trên, việc đánh giá năng lực sẽ xác định được đề thi phù hợp. Mục tiêu đánh giá năng lực nào thì đề tập trung vào các yêu cầu ấy. Kiến thức lí luận và lịch sử văn học chỉ là công cụ để giúp học sinh đọc hiểu, cảm thụ tốt tác phẩm và viết bài nghị luận văn học hay hơn. Vì thế đánh giá NLVH, nhất là với học sinh giỏi thì quan trọng hơn cả là yêu cầu đọc hiểu và phân tích, cảm thụ tác phẩm văn học. Nhưng để tránh chép văn mẫu, để đo được chính xác năng lực vận dụng và sáng tạo cần yêu cầu học sinh đọc hiểu và viết về một văn bản mới, chưa được học. Đối với học sinh bình thường, yêu cầu NLNN lại cần được coi trọng. Khi đó chỉ cần yêu cầu đọc hiểu và viết các văn bản thông thường, nhất là văn bản thông tin. Tất nhiên vẫn có văn bản văn học, nhưng độ khó không thể như yêu cầu với học sinh giỏi. Việc kiểm tra thường xuyên vẫn cần đánh giá cả các văn bản đã học, nhưng với đánh giá định kì nên yêu cầu vận dụng kĩ năng đọc, viết với ngữ liệu mới.

NLVH thể hiện ở cả bốn kĩ năng đọc, viết, nói, nghe. Đánh giá năng lực này của học sinh có thể bằng nhiều cách. Tuy nhiên phù hợp hơn cả là yêu cầu các em đọc hiểu văn bản văn học (VBVH); hạn chế yêu cầu đọc hiểu văn bản thông tin hay văn bản nghị luận; hai loại này phù hợp hơn với yêu cầu trong đánh giá NLNN.

VBVH được viết bằng nhiều thể loại, với học sinh phổ thông chỉ nên yêu cầu đọc hiểu một số thể loại thông thường. Tiểu học chủ yếu đọc hiểu thơ và truyện; THCS gồm thơ, truyện, kí, kịch; THPT cũng vẫn là các thể loại lớn ở THCS nhưng chú ý hơn đến đặc điểm thể loại; yêu cầu cao hơn về độ khó. Cho dù thế cũng không nên đánh đố học sinh bằng các nhận định lí luận văn học, hay văn học sử quá phức tạp, rắc rối. Những kiến thức lí luận hay văn học sử là cần thiết, nhưng chỉ là công cụ để giúp học sinh đọc hiểu VBVH có hiệu quả hơn.

Để ra đề kiểm tra NLVH cần bám sát vào các yêu cầu cần đạt của mỗi lớp đã ghi trong chương trình. Tuy nhiên đánh giá việc đọc hiểu VBVH thường tập trung vào yêu cầu cơ bản, phù hợp với học sinh mỗi cấp học. Dù sử dụng hình thức nào thì đánh giá việc hiểu một VBVH cũng cần tập trung vào một số yêu cầu sau:

a/ Văn bản ấy nói về việc / chuyện gì? Việc / chuyện ấy có gì đặc sắc?

b/ Qua việc / chuyện ấy người viết (tác giả) muốn nói điều gì với người đọc? Vì sao có thể hiểu đó là điều tác giả muốn nói? Liệu có thể hiểu khác được không?

c/ Điều người viết muốn gửi gắm được thể hiện qua các yếu tố hình thức nào? Vì sao sử dụng hình thức ấy là hay, sâu sắc và phù hợp với điều muốn nói?

Các yêu cầu nêu trên là khái quát. Yêu cầu a/ là thấp nhất, đó là hiểu nội dung bề nổi của văn bản, học sinh chỉ cần đọc qua là có thể trả lời được. Yêu cầu b/ bắt đầu cao hơn, học sinh phải hiểu thông điệp chìm khuất sau văn bản; hiểu bề sâu, cái không hiển ngôn trên văn bản; chỉ ra văn bản viết về chuyện này nhưng là để nói chuyện khác. Thông điệp chìm khuất ấy là khả biến, là khoảng trống, nhiều tầng, mỗi người đọc có thể tiếp nhận khác nhau. Nhưng tiếp nhận phải có căn cứ, không thể suy diễn bừa bãi, nên cần yêu cầu lí giải “Vì sao?”. Yêu cầu c/ là yêu cầu đánh giá và lí giải sự phù hợp giữa hình thức biểu đạt và nội dung văn bản; là một yêu cầu khó hơn. Cuối cùng d/ yêu cầu học sinh liên hệ để thấy sự tác động của văn bản có ý nghĩa đối với cuộc sống của chính mình như thế nào; thấy văn bản nói chuyện xưa mà vẫn có giá trị với bây giờ…

Từ các yêu cầu cơ bản nêu trên để ra đề kiểm tra. Trước hết cần xác định mục tiêu và nội dung của việc kiểm tra-đánh giá, tiếp đến là lựa chọn văn bản đọc hiểu, sau đó xác định hình thức (trắc nghiệm, tự luận) và cài đặt các yêu cầu nêu trên vào đề cũng như đáp án. Và đương nhiên qua bài văn sẽ đánh giá được năng lực viết của học sinh nên cần dành điểm cho năng lực này.

CHIẾN THUẬT “CUỘC GIAO TIẾP VĂN HỌC” – MỘT CÁCH TIẾP CẬN DẠY HỌC VĂN BẢN THÔNG TIN

Trên thế giới, văn bản thông tin được giảng dạy trong chương trình môn Ngữ văn từ lâu với sự phong phú về thể loại. Tại Việt Nam, khái niệm văn bản thông tin còn khá mới mẻ đối với cả giáo viên chúng ta và các em học sinh. Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đưa văn bản thông tin vào dạy đọc hiểu từ lớp 1 đến lớp 12. Đây là một điểm mới của chương trình 2018. Chúng ta cùng bàn luận một vài vấn đề.

1. Văn bản thông tin là gì?

Văn bản thông tin là văn bản được viết để truyền đạt thông tin, kiến thức. Loại văn bản này rất phổ biến, hữu dụng trong đời sống. Nó bao gồm nhiều thể loại: thông báo, chỉ dẫn, mô tả công việc, hướng dẫn sử dụng sản phẩm, lịch biểu, cơ sở dữ liệu, hợp đồng quảng cáo, các văn bản hành chính, từ điển, bản tin… Loại văn bản này thường trình bày một cách khách quan, trung thực, không có yếu tố hư cấu, tưởng tượng. Qua văn bản thông tin, người đọc, người nghe hiểu chính xác những gì được mô tả, giới thiệu. Thông tin có thể được tổ chức theo một trong các cách cấu trúc như: nguyên nhân-kết quả; trật tự thời gian; so sánh và phân loại; vấn đề và giải pháp… Trong văn bản thông tin, người viết thường sử dụng những cách thức hoặc phương tiện để hỗ trợ người đọc tìm kiếm thông tin một cách nhanh chóng và hiệu quả. Một bảng chú thích, một dòng in đậm, in nghiêng, những nét gạch chân, những dấu sao, dấu hoa thị hoặc những hình ảnh minh họa đều có thể giúp người đọc dễ dàng hơn trong việc xác định vị trí và mối quan hệ của các thông tin để hiểu nội dung văn bản.

2. Tiếp cận văn bản thông tin theo hướng nào?

Chiến thuật đọc hiểu thông tin là những biện pháp, thủ thuật, cách thức, thao tác nhất định nhằm dẫn dắt quá trình nhận thức của học sinh để chiếm lĩnh, kiến tạo ý nghĩa của văn bản một cách tích cực, chủ động, hiệu quả. Để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh và tránh sự đơn điệu, nhàm chán trong mỗi giờ học văn, giáo viên có thể vận dụng nhiều chiến thuật khác nhau nhằm thu hút, hấp dẫn các em. Trong đó, vận dụng chiến thuật “cuộc giao tiếp văn học”-chiến thuật tạo nên sự kết nối đa chiều khi đọc văn bản là một cách làm khả quan. Bởi nó sẽ giúp học sinh từng bước trở thành người đọc độc lập, thuần thục, có kĩ năng, thực hành thành thạo, sáng tạo trong học tập và ngoài đời sống. Học sinh như được tham gia vào sự việc để lắng nghe ý kiến đánh giá từ các điểm nhìn khác nhau về vấn đề đang bàn đến. Qua đó, bày tỏ suy nghĩ, chính kiến của mình.

Cách thức thực hiện chiến thuật này là giáo viên sẽ thiết kế mẫu phiếu học tập phù hợp theo sơ đồ bốn điểm nhìn và hướng dẫn học sinh thực hiện. Trung tâm của sơ đồ là vấn đề chính hoặc một câu hỏi lớn được đặt ra, một thông điệp, một khái niệm then chốt, hoặc một quan điểm… Trong giờ học, giáo viên là người tổ chức, định hướng các hoạt động học của học sinh. Sau khi học sinh nêu chính kiến, giáo viên có thể tổ chức cho cả lớp hoặc các nhóm thảo luận và kịp thời khen ngợi, khích lệ những ý tưởng hay, những kiến giải mới lạ. Song, cũng nên chia sẻ với những ý kiến trái chiều bằng thái độ ân cần, trân trọng; nên động viên, gợi dẫn để mọi học sinh đều có thể tự tin bày tỏ quan điểm của mình; điều này sẽ giúp cho giờ học trở nên sôi nổi hơn. Khoảng cách giữa giáo viên với học sinh, giữa các học sinh Khá-Giỏi-Trung bình-Yếu được rút ngắn hơn. Lớp học sẽ tăng thêm bầu không khí gần gũi và thân thiện.

Điều cần lưu ý là mọi kết nối, mọi cuộc giao tiếp được thiết kế phải căn cứ vào mục tiêu cần đạt của bài học. Không sa đà, làm loãng vấn đề cốt lõi của văn bản thông tin đang đọc hiểu.

3. Một ví dụ về dạy học văn bản thông tin

Dưới đây là một ví dụ về cách dạy học bài Bức thư của thủ lĩnh da đỏ (SGK Ngữ văn 6, tập hai). Trong văn bản có hai vấn đề cần giải quyết là: Sự khác biệt đối lập trong cách sống, trong thái độ đối với Đất, đối với thiên nhiên giữa người da đỏ và người da trắng; Thông điệp nêu lên vấn đề có ý nghĩa toàn nhân loại: Con người phải sống hòa hợp với thiên nhiên, phải chăm lo bảo vệ môi trường và thiên nhiên như bảo vệ mạng sống của chính mình. Cuộc giao tiếp sẽ được thực hiện trên cơ sở cùng một vấn đề nhưng có nhiều điểm nhìn khác nhau. Học sinh nêu ý kiến cá nhân theo các mẫu phiếu do giáo viên thiết kế: 

Mẫu 1: Vấn đề “Sự khác biệt đối lập trong cách sống, trong thái độ đối với Đất, đối với thiên nhiên giữa người da đỏ và người da trắng”:

Mẫu phiếu số 1: Sự khác biệt đối lập trong cách sống, trong thái độ đối với Đất, đối với thiên nhiên giữa người da đỏ và người da trắng

Mẫu 2: Thông điệp nêu lên vấn đề có ý nghĩa toàn nhân loại: Con người phải sống hòa hợp với thiên nhiên, phải chăm lo bảo vệ môi trường và thiên nhiên như bảo vệ mạng sống của chính mình.

Ý kiến 1: Đất đai là của ta, ta muốn làm gì trên đất đai là quyền của người sở hữu.Ý kiến 2: Đất đai không sinh sôi thêm khi con người sinh sôi nảy nở. Bởi vậy cần phải bảo vệ đất đai.
Ý kiến 3:Đất đai cùng với thiên nhiên là vốn quý. Hãy chung tay bảo vệ đất đai và thiên nhiên quanh ta.Ý kiến 4: Hãy bảo vệ thiên nhiên vì thiên nhiên cung cấp cho con người nhiều nguồn tài nguyên quý giá.
Ý kiến của em:
Mẫu phiếu số 2: Thông điệp nêu lên vấn đề có ý nghĩa toàn nhân loại

Đất đai cùng với mọi vật liên quan với nó- bầu trời, không khí, dòng nước, động vật, thực vật- là thiêng liêng đối với người da đỏ, là bà mẹ của người da đỏ nên không dễ gì đem bán. Cách đối xử của người da trắng mới nhập cư đối với đất là hoàn toàn đối lập với người da đỏ, nếu người da đỏ buộc phải bán đất thì người da trắng cũng phải đối xử với đất như người da đỏ. “Đất là mẹ” của loài người, điều gì xảy ra với đất đai tức là xảy ra với những đứa con của đất, vì vậy cần phải biết kính trọng đất đai. Con người phải sống hòa hợp với thiên nhiên, chăm lo bảo vệ thiên nhiên như bảo vệ mạng sống của chính mình.

Đây là câu hỏi liên hệ thực tiễn. Học sinh có thể có những ý kiến trái chiều nhau trong cuộc giao tiếp này. Giáo viên tổ chức cho học sinh trao đổi, thảo luận và chốt: Phải bảo vệ thiên nhiên như bảo vệ mạng sống của chính mình. 

Chiến thuật “cuộc giao tiếp văn học” có thể giúp giáo viên kiến tạo những giờ dạy học đọc hiểu văn bản thông tin sinh động, hấp dẫn, phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh, nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay. 

PHÂN BIỆT DANH TỪ VÀ ĐẠI TỪ

Phan biet danh tu va dai tu

Phân biệt danh từ và đại từ dựa vào tình huống giao tiếp

Tình huống: Trong Tiếng Việt, nhiều danh từ được dùng làm đại từ xưng hô. Vậy làm thế nào để phân biệt danh từ và đại từ?

Dưới đây là một đoạn trích truyện Dế Mèn phiêu lưu kí của nhà văn Tô Hoài để làm ví dụ:

“Bởi i ăn uống điều độ và làm việc có chừng mực nên tôi chóng lớn lắm. Chẳng bao lâu, tôi đã trở thành một chàng dế thanh niên cường tráng. Đôi càng tôi mẫm bóng. Những cái vuốt ở chân, ở khoeo cứ cứng dần và nhọn hoắt…”

Từ “tôi” trong đoạn văn trên là đại từ hay là danh từ? Có người cho rằng Tôi là đại từ, có người lại cho rằng Tôi  là danh từ chỉ người kể chuyện. (Ví dụ: Cháu chào bác- từ bác là danh từ). Chúng ta cùng tìm hiểu vấn đề:

  1. Danh từ

Theo định nghĩa của SGK Ngữ văn 6 – NXB Giáo dục Việt Nam do Nguyễn Khắc Phi tổng chủ biên, Danh từ là những từ chỉ người, vật, hiện tượng, khái niệm…Danh từ có thể kết hợp với từ chỉ số lượng ở phía trước, các từ này, ấy, đó, ở phía sau và một số từ ngữ khác để lập thành cụm danh từ. (Sách đã dẫn- trang 87).

Theo Từ điển Tiếng Việt: của Viện Ngôn ngữ học, do Hoàng Phê chủ biên: Danh từ 1. Từ chuyên biểu thị ý nghĩa sự vật, đối tượng, thường làm chủ ngữ trong câu. “người”, “nhà”, “tinh thần”,  “Việt Nam” là những danh từ. 2. Từ hoặc tổ hợp từ chuyên dùng để gọi tên sự vật hoặc biểu đạt khái niệm thường trong lĩnh vực chuyên môn. (Sách đã dẫn- trang 242).

  1. Đại từ

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, đại từ hay còn gọi là đại danh từ là một dạng thay thế cho một danh từ (hoặc danh ngữ) có hoặc không có từ hạn định. Ví dụ youthey trong tiếng Anh.

Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do Hoàng Phê chủ biên: Đại từ: Từ dùng để chỉ một đối tượng, một điều đã được nói đến, hay là một đối tượng, một điều nào đó trong hoàn cảnh nói năng nhất định. “Tôi”, “nó”, “đây”, “ấy”, “gì”, đều là đại từ. (Sách đã dẫn- trang 281).

Kết luận về việc phân biệt danh từ và đại từ

Từ “tôi” trong trường hợp trên là đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất. “Tôi” không thể là danh từ, chỉ người kể chuyện.

Trong câu “Cháu chào bác”, từ “bác” là đại từ ngôi thứ hai- người đang đối thoại với mình. Từ “bác” ở đây hoàn toàn mang tư cách đại từ. Chỉ có điều, từ “bác” vốn có gốc là danh từ. Người Việt Nam chúng ta khi xưng hô vẫn thường dùng các danh từ chỉ quan hệ thân tộc (ông, bà, anh, chị, chú, thím,…) vào vai trò đại từ. Vậy nên vẫn có người không coi đây là đại từ một cách “chính danh”. Có người thận trọng thì sau khi xếp những từ đó vào đại từ rồi thì chú thích: danh từ chỉ quan hệ thân tộc được dùng như đại từ. Chúng ta cần nhìn vào bản chất để khái quát cho chính xác. Các từ ông, bà, bác, bá, chú, thím, anh, chị… khi dùng để xưng hô thì nó hoàn toàn mang từ cách đại từ và nó phải được xếp vào hàng của đại từ. 

Tóm lại, khi cần phân biệt đại từ, cụ thể, loại đại từ vốn là danh từ chỉ quan hệ thân tộc, về nguyên tắc, hễ dùng để xưng hô thì nó nghiễm nhiên là đại từ. Các từ chỉ thân tộc, một số từ chỉ các quan hệ khác hoặc chỉ các chức danh, khi dùng để xưng hô thì cũng là đại từ: giáo sư, thủ tướng, bộ trưởng, bác sĩ, nhà giáo, thầy, cô,… Và chỉ khi dùng để xưng hô thôi, nếu không nó lại là danh từ.

 Ví dụ: (1). (Phóng viên): Thưa thầy, thầy đánh giá như thế nào về giáo dục Việt Nam hiện nay? (thầy là đại từ). 

(2). Trường em vừa có thêm hai thầy dạy Toán (thầy là danh từ).