HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT ĐƯỢC SINH RA TỪ TÂM TRÍ CỦA NHÀ VĂN NHƯNG CHỈ THỰC SỰ SỐNG BẰNG TÂM TRÍ CỦA NGƯỜI ĐỌC

Hinh tuong nhan vat duoc sinh ra tu tam tri cua nha van nhung chi thuc su song bang tam tri cua nguoi doc

Văn học nói bằng hình tượng, hình tượng nghệ thuật là khối pha lê lấp lánh làm nên giá trị tác phẩm văn học. Nếu cái thần của âm nhạc là giai điệu, của hội họa là đường nét và màu sắc thì cái thần của văn chương chính là ở hình tượng nhân vật. Song những tác phẩm văn học chỉ xây dựng nên những hình tượng về con người thì đó chưa hẳn là một tác phẩm vô giá. Bởi trong sáng tạo nghệ thuật, điều quan trọng, đặc sắc nhất nhiều khi không phải ỏ hình tượng con người mà ở hình tượng nhân vật. Chính vì vậy, có ý kiến cho rằng: “Hình tượng nhân vật được sinh ra từ tâm trí của nhà văn nhưng chỉ thực sự sống bằng tâm trí của người đọc”.

“Nhà thơ tư duy bằng hình tượng” (Biêlinxki). Văn học ở bất kì thời đại nào muốn phản ánh hiện thực đời sống đều phải thông qua các hình tượng nhân vật điển hình. Nhà thơ tư duy bằng hình tượng, nhà văn cũng tư duy bằng hình tượng. Thế giới thêm sắc màu, cuộc sống thêm âm điệu bởi những hình tượng nhân vật điển hình độc đáo.

“Văn học và đời sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm của nó chính là con người” (Nguyễn Minh Châu). Văn học phản ánh cuộc sống và trung tâm là con người thông qua hình tượng nhân vật. Chính những hình tượng nghệ thuật độc đáo, có sức phổ quát, mang những ý nghĩa sâu sắc về nhân sinh đã góp phần làm nên nét riêng cho tác phẩm văn học. Người nghệ sĩ thường sáng tạo nên những tượng đài bất hủ về con người bằng cách xây dựng chính hình tượng nhân vật.

Nghệ thuật đồng nghĩa với sáng tạo. Nghệ sĩ là kẻ làm công việc “khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” (Nam Cao). Viết văn là một quá trình khai phá những vỉa quặng của cuộc đời nhưng mỗi thứ kim loại quý hiếm nhà văn tìm thấy lại lấp lánh một sắc màu riêng biệt. Có phải đó là sắc màu của những hình tượng nhân vật điển hình được nhà văn nhặt nhạnh ở cuộc đời, nhào nặn trong tư tưởng và đưa vào tác phẩm dưới lớp áo chủ quan độc đáo? Ngay từ khi ra đời, văn học đã nhận thức đời sống và thể hiện tư tưởng, tình cảm bằng các hình tượng nghệ thuật. Từ tiếng gọi chú tiểu lẳng lơ nhưng đầy khao khát yêu đương của Thị Màu trên chiếu chèo ngày xưa đến đoạn trường mười lăm năm lưu lạc của Thúy Kiều trong thơ Nguyễn Du, hình tượng nhân vật điển hình đã thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt các tác phẩm văn học, bắc nhịp cầu giữa hiện thực xã hội và tư tưởng nhân vật để khái quát hiện thực, để cắt nghĩa đời sống và thể hiện tư tưởng của chính mình. Vì vậy, hiện thực trong tác phẩm mang đậm dấu ấn chủ quan của người nghệ sĩ. Nhà văn là chủ thể sáng tạo, là kẻ chi phối mọi tư tưởng thẩm mĩ, góc nhìn, phạm vi của hiện thực nên dù được bắt nguồn từ cuộc sống, dù được nuôi dưỡng bằng bầu sữa của bà mẹ cuộc đời thì tác phẩm văn chương, qua các hình tượng nhân vật, phản ánh hiện thực “được sinh ra từ tâm trí của nhà văn”. Tác phẩm văn chương không bao giờ là bản sao của hiện thực mà hiện thực được soi chiếu vào tác phẩm bằng lăng kính chủ quan của người viết, có thể tốt, có thể xấu, có thể đáng vui và cũng có thể đáng buồn. Hiện thực cuộc sống được khoác lên tấm áo nhiều màu như vậy chính là bởi hình tượng nhân vật được nhà văn đưa vào tác phẩm. Hình tượng nhân vật là đứa con của hiện thực cuộc sống nhưng lại được nuôi dưỡng bằng tình cảm, tư tưởng của nhà văn. Nó cũng là cuộc đời riêng, nhưng đồng thời cũng là cái loa phát ngôn của người nghệ sĩ. Trong bản thân hình tượng bao giờ cũng có sự thống nhất sinh động giữa các mặt cá biệt và khái quát, lí trí và cảm xúc, chủ quan và khách quan. Hình tượng càng độc đáo, được nâng lên mức điển hình thì hiện thực càng được phản ánh ở những góc cạnh sâu xa nhất, hướng tới một giá trị thẩm mĩ riêng – “chỉ thực sự sống bằng tâm trí của người đọc”. Điều đó làm nên “ánh sáng riêng mãnh liệt” cho hình tượng nhân vật. Đến với hình tượng nhân vật là đến với một thế giới hiện thực riêng biệt được xây dựng ngay trên nền thế giới hiện thực đương thời.Hình tượng nhân vật tỏa sáng của lí tưởng thẩm mĩ lên trên hiện thực bề bộn, để cho người đọc có một cái nhìn mới mẻ, chân thực và sâu sắc hơn về cuộc đời. Lời nhận định đã khẳng định tầm quan trọng và giá trị biểu hiện của hình tượng nhân vật trong tác phẩm. Đó cũng là cơ sở để đánh giá tư tưởng nhà văn và giá trị của toàn bộ tác phẩm.

“Hình tượng nhân vật được sinh ra từ tâm lí của nhà văn nhưng chỉ thực sự sống bằng tâm trí của người đọc”. Nhà văn lấy tư liệu từ hiện thực để xây dựng nên hình tượng điển hình và đặt vào đó tư tưởng thẩm mĩ của mình. Tôi nhớ câu chuyện thần thoại xa xưa, thần Trụ Trời đã lấy đất sét nặn ra con người và thổi hơi thở của mình vào những hình tượng vô tri để cho con người sự sống. Nhà văn phải chăng cũng là người thổi linh hồn mình vào trong hình tượng nhân vật để dù mang những phẩm chất đặc trưng, phổ quát của thế giới hiện thực, nó vẫn có một sức sống riêng, một cuộc đời cá biệt trong “tâm trí của người đọc”. Không phải ngẫu nhiên mà nhân vật trung tâm trong các tác phẩm của chủ nghĩa hiện thực là những kẻ đại diện cho bọn thống trị như Nghị Hách, Nghị Quế, bá Kiến… hay những nạn nhân của xã hội cũ như anh Pha, chị Dậu, lão Hạc, Mị… Hiệu quả cao nhất mà những điển hình đó đạt được là bóc trần sự mục nát của xã hội thực dân phong kiến với một thái độ phủ nhận và phê phán mạnh mẽ. Nhưng độc đáo hơn, lần đầu tiên người ta biết đến một cách trị người tàn ác và mưu mô như của bá Kiến, con đường leo lên xã hội thượng lưu nhơ bẩn và lố bịch như của Xuân Tóc Đỏ. Những hình tượng điển hình ấy không bao giờ chỉ đơn thuần là một bức tranh nhân sinh mà bao giờ cũng gửi đến người đọc một thông điệp, một triết lí sâu xa.

Biêlinxki từng phân biệt: “Nhà triết học nói bằng phép tam đoạn luận, nhà văn nói bằng các hình tượng và bức tranh”. Dù đều đi từ cái riêng đến cái chung để khám phá cuộc sống con người, khám phá bản chất của thực tại nhưng trong quá trình nghiên cứu, trong khi các nhà triết học, khoa học gạt bỏ những chi tiết cá biệt, những yếu tố ngẫu nhiên để tìm ra cái chung, để khẳng định yếu tố khách quan, chân lí thì trong nghệ thuật lại in đậm dấu ấn chủ quan, cái chung được biểu hiện trong cái riêng, cái riêng để khái quát cái chung. Hình tượng nhân vật ra đời nhằm mục đích đó. Chí Phèo, Thị Nở từ văn chương đã bước ra cuộc đời, trở thành những cái tên như minh chứng tiêu biểu cho tính cách điển hình của hình tượng nhân vật. Ta thấy trong cuộc đời nhọc nhằn của anh Pha, chị Dậu… dáng dấp ông cha, những người cả đời gắn bó với ruộng đồng và chịu biết bao nhiêu áp bức. Đó chính là sự :sinh ra từ tâm trí của nhà văn”. Nhưng không bao giờ những Chí Phèo, chị Dậu ấy là bản thân cuộc đời thực. Văn học chỉ có một Chí Phèo với bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người trong khi cuộc đời có cả ngàn thằng Chí Phèo uống rượu say rồi chửi bới. Văn học chỉ có một Hăm-lét với niềm trăn trở, day dứt vì lí tưởng “sống hay không sống” trong khi lịch sử có biết bao nhiêu âm mưu “chiếm ngôi vua, đoạt quyền chúa”. Không bao giờ người ta quên được tiếng nói khắc khoải của Chí Phèo: “Tao muốn làm người lương thiện. Ai cho tao lương thiện? Làm sao xóa được những vết sẹo trên mặt này?” Không chỉ bởi một hiện thực khốc liệt của xã hội phong kiến dồn đuổi con người vào bước đường cùng mà, sâu sắc hơn cả, người ta nhận ra trong đó một khát vọng sống mạnh mẽ, cháy bỏng, một ước muốn lương thiện giản dị mà cao đẹp của một tâm hồn tội lỗi. Lần đầu tiên người ta nhận ra ánh sáng của lương tri, ánh sáng của tính người tỏa ra từ thân xác của con quỷ dữ. Đó chính là “ánh sáng riêng” của hình tượng Chí Phèo “chỉ thực sự sống bằng tâm trí của người đọc”.

Kinh Thư xưa có câu: “Thẩm sở mộng chi nhân, khắc kì hình tượng, dĩ tứ phương băng cửu chi ư dân gian” (Xem xét người thấy trong mộng, khắc lấy hình tượng của người ấy để đi tìm khắp bốn phương trong dân gian). Hình tượng nhân vật bao giờ cũng là “con người của dân gian”. Nó được thoát thai từ hiện thực đời sống và mang những tính cách cơ bản nhất, bản chất nhất và nổi bật nhất của đời sống xã hội. Nguyễn Du từ bao nhiêu cuộc đời long đọng, lận đận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến đã xây dựng lên hình tượng Thúy Kiều với tất cả nỗi đau khổ của loài người đúc kết lại:

Đau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Trong cuộc đời mười lăm năm lưu lạc của Kiều có những “vết xe đổ” của Đạm Tiên, của Tiểu Thanh, của người con gái đất Long Thành cùng biết bao nỗi đau khổ khác của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Có thể nói, cuộc đời Thúy Kiều là một bức tranh toàn cảnh và sinh động về nỗi đoạn trường của người phụ nữ dưới xã hội hà khắc, nặng nề, tàn ác và thối nát của thời đại cũ. Hiện thực trong Truyện Kiều được tái hiện qua tâm trí của Nguyễn Du. Người đọc như được cùng nàng Kiều trải qua biết bao thăng trầm, tận mắt chứng kiến và thấu hiểu muôn vàn nỗi khổ đau của kiếp người. Nhưng Kiều không chỉ là đại diện cho một lớp người, cuộc đời Kiều không đơn thuần chỉ là một bức tranh hiện thực rộng lớn và Nguyễn Du không chỉ là ngòi bút hiện thực chủ nghĩa một chiều. Kiều được ca tụng là người phụ nữ đẹp nhất của văn học Việt Nam bởi những nét đẹp riêng biệt, độc đáo, chỉ tài năng Nguyễn Du mới có thể sáng tạo nên: 

Làn thu thủy, nét xuân sơn

Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh

Một hai nghiêng nước nghiêng thành

Sắc đành đòi một, tài đành họa hai.

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Vẻ đẹp khiến cho trời đất phải ghen tức, vẻ đẹp làm thiên nhiên đảo lộn, có lẽ trong cả nền văn học Việt Nam, người ta chỉ tìm thấy mình Kiều. Kiều “sống trong tâm trí người đọc” không chỉ bởi nét riêng biệt “hơn người” ấy mà còn bởi tấm lòng cao cả của Nguyễn Du được soi rọi trong những câu thơ đẹp nhất dùng để ca ngợi sắc đẹp người con gái tài hoa.

Cũng trong Truyện Kiều, bên cạnh nhân vật điển hình Thúy Kiều, Kim Trọng, Từ Hải thì Mã Giám Sinh cũng là một nhân vật điển hình có “ánh sáng riêng”. Ở hình tượng này, người đọc nhận ra một cách rõ ràng hiện thực biểu hiện cụ thể, sinh động như có thực:

Hỏi tên, rằng: “Mã Giám Sinh”

Hỏi quê, rằng: “Huyện Lâm Thanh cũng gần”

…Ghế trên ngồi tót sỗ sàng

…Cò kè bớt một thêm hai.

“Nghệ thuật là biết tước bỏ và tập trung” (Lep Tonxtoi). Nguyễn Du đã “tước bỏ” những chi tiết về tên, tuổi, quê quán. Và “tập trung” với vài chữ thật đắt, thật sâu cay – “tót, sỗ sàng, cò kè”, tác giả đã “giết chết” nhân vật của mình để khẳng định bản chất một kẻ vô học, một con buôn với đầy đủ ngón nghề và sự ma lanh. Nhưng đằng sau đó, người ta còn thấy cả một phường buôn thịt bán người tàn nhẫn của xã hội phong kiến. Nhân vật Mã Giám Sinh vừa mang tính cá biệt vừa mang tính khái quát, là một điển hình tiêu biểu cho những nhân vật phản diện trong Truyện Kiều. Người đọc vừa thấy ở hắn một tính cách xảo quyệt của kẻ buôn người hạng nhất, vừa thấy thêm một góc tối nhơ bẩn của xã hội phong kiến đương thời. Từ câu chuyện đời Minh của Thanh Tâm Tài Nhân bên Trung Quốc, bằng tài năng bậc thầy, Nguyễn Du đã xây dựng nên những hình tượng điển hình độc đáo để từ nguyên tác Kim Vân Kiều truyện, “thiên văn tự tuyệt bút” – Truyện Kiều ra đời, dù vẫn giữ nguyên cốt truyện nhưng hiện thực đã trở thành hiện thực của xã hội Việt Nam đương thời, nhân vật đã trở thành con người Việt Nam. Tác phẩm mang đậm bản sắc dân tộc, dù xây dựng từ cái nền của tác phẩm nước ngoài chính bởi những hình tượng nhân vật điển hình như Kiều, Từ Hải, Mã Giám Sinh… Như vậy, “nghệ thuật không đòi hỏi phải thừa nhận cái tác phẩm của nó như là hiện thực” (Phơ-bách). Sự thực trong tác phẩm nghệ thuật không phải bản thân cuộc đời thực, thậm chí có lúc thực hơn ngoài cuộc sống vì hình tượng nhân vật không lệ thuộc máy móc vào yếu tố cá biệt. Sự kiện trong thực tế với sự kiện trong văn học có một khoảng cách lớn. Sợi dây mỏng manh nối giữa chúng chính là hình tượng nhân vật, là tư tưởng của người viết.

Hình tượng văn học là sự tổng hợp những tư tưởng và say mê, là kết quả của một tấm lòng đầy thiết tha” (Biêlinxki). Hình tượng nhân vật trong tác phẩm bao giờ cũng mang dấu ấn mạnh mẽ của chủ quan nhà văn, bộc lộ tiếng nói riêng, phong cách độc đáo của người nghệ sĩ. Mỗi hình tượng nhân vật điển hình lại tỏa chiếu ra một ánh sáng riêng. Đó chính là ánh sáng của tư tưởng nhà văn, của lí tưởng thẩm mĩ được soi chiếu qua hình tượng nhân vật là nơi gửi gắm trái tim sôi nổi nhiệt thành, đầy yêu thương của người viết. Đằng sau ngòi bút lạnh lùng, sắc sảo xây dựng nên một hình tượng Chí Phèo là trái tim Nam Cao nhức nhối những nhịp đập yêu thương và căm phẫn. Ông xây dựng Chí Phèo trong bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người không chỉ để cất lên tiếng nói tố cáo xã hội mà còn là tiếng nói cảm thông đòi quyền sống, quyền hạnh phúc con người. Những trang viết của Nguyễn Du cũng thấm đầy nước mắt khi miêu tả cuộc đời khổ đau của Thúy Kiều. Nhà thơ đã khóc cùng nhân vật, cười cùng nhân vật, nâng niu nhân vật lên bằng ngòi bút tình thương đầy lòng bác ái. Tư tưởng của nhà văn soi sáng trong các hình tượng nhân vật.Nó luôn hướng con người tới những giá trị đích thực của văn chương và cuộc sống. Văn học luôn là điểm tựa để con người vươn lên trên hoàn cảnh nghiệt ngã, hướng tới chân – thiện – mĩ cuộc đời. “Văn học là nhân học” (M.Gorki). Mọi yếu tố của văn học đều mang giá trị nhân văn, nhân đạo hóa con người, chỉ ra cho con người sự xấu xa để vươn tới cái cao cả của tâm hồn. Đó chính là thứ ánh sáng “được sinh ra từ tâm trí của nhà văn” không bao giờ tắt trong mọi tác phẩm văn chương chân chính.

“Hình tượng nhân vật được sinh ta từ tâm trí” bằng tài năng và tâm huyết của nhà văn, làm nên đặc điểm phong cách từng tác giả. Nó tỏa ra thứ ánh sáng của riêng người viết, ánh sáng của tài năng, của lương tri. Không một hình tượng nhân vật nào giống hình tượng nhân vật nào bởi nghề văn đòi hỏi sự sáng tạo, sự thâm nhập thực tế để xây dựng nên những hình tượng nhân vật bất hủ. Khi người nghệ sĩ đã thâm nhập sâu sắc vào nhân vật, họ như được sống cuộc đời của nhân vật, xúc động, yêu thương, vui buồn, đau khổ, giận hờn… như cảnh ngộ của chính mình. Đó là những giây phút “tự quên mình”, đồng thời in dấu chủ quan của mình vào đối tượng miêu tả. Các nghệ sĩ vĩ đại như L. Tôn-xtôi, M. Gorki, Ban zắc, Phlo-be… đều có sự thâm nhập sâu sắc như vậy. Ban zắc kể lại, sau khi đi theo và lắng nghe những người công nhân nói chuyện với nhau, ông nhanh chóng nhập thân vào đối tượng sâu sắc đến mức cảm thấy như mình cùng đang mặc những quần áo rách rưới như họ. Chỉ có sự thâm nhập thực tế bằng cả con người và trái tim thì người nghệ sĩ mới có thể sáng tạo nên những hình tượng nhân vật bất hủ, những nhân vật vừa là con người của quần chúng, vừa là con người của văn chương, vừa mang tính hiện thực, vừa mang tính nghệ thuật độc đáo. Bàn về giá trị của hình tượng điển hình trong tác phẩm, lời nhận định còn đặt ra yêu cầu của người nghệ sĩ chân chính. Đó là những yêu cầu của văn học muôn đời.

Mỗi người nghệ sĩ khi sáng tạo mang trong mình một nhiệt huyết sáng tạo cháy bỏng và con mắt tinh nhạy, nhìn hiện thực cuộc sống với con mắt của người đầu tiên; đặc biệt là “sống toàn tim, toàn trí, sống toàn tâm và thức nhọn giác quan” để xây dựng hình tượng nhân vật mang ý nghĩa, ẩn chứa bao điều huyền diệu, sâu sắc về nhân sinh. Và người tiếp nhận do đó khi thưởng thức tác phẩm cũng cần phải nâng cao trình độ thẩm mĩ, tìm hiểu và nhận ra ý nghĩa, giá trị của những hình tượng nhân vật.

Nhà văn là kẻ đã dùng những hình tượng và từ ngữ hoàn chỉnh lạ lùng để cô đặc lại những ý nghĩ, những cảm xúc, những giọt máu và những giọt lệ cay đắng, nóng bỏng của thế gian này. Hơn bất kì một nghề nghiệp, tôi yêu nghề văn bởi hình tượng nhân vật được sinh ra từ tâm trí của tôi và hiện thực cuộc đời dắt tôi đến một chân trời mới, một tâm hồn mới và những điều kì diệu chỉ thấy trong mơ.

NHỮNG DẪN CHỨNG HAY PHỤC VỤ VIẾT VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

Phan biet nang luc ngon ngu va nang luc van chuong

1/ Dẫn chứng về lối sống trung thực, bất chấp khó khăn vẫn đấu tranh cho lẽ phải

Thầy Chu Văn An (1292-1370) là một nhà nho, nhà hiền triết, nhà sư phạm mẫu mực cuối đời Trần, nổi tiếng là người cương trực không màng danh lợi. Ông ra làm quan thời Trần Dụ Tông (đầu thế kỉ XIV),chính sự suy đồi, nịnh thần lũng đoạn, ông dâng sớ xin chém 7 tên nịnh thần (Thất trảm sớ) nhưng không được chấp thuận. Ông treo ấn từ quan về quê dạy học và viết sách. Ông có rất nhiều học trò đỗ đạt làm quan to trong triều đình. Song học trò của ông nếu mắc lỗi vẫn có thể bị ông thẳng thắn phê bình. Ông nổi tiếng về tính cách khảng khái và cương trực, là người thầy đạo cao đức trọng, xứng đáng là “Vạn thế sư biểu” của muôn lớp học trò người Việt.

2/ Dẫn chứng về sự chiến thắng bản thân

Chị Phạm Thị Huệ quê ở Hải Phòng, là một trong số ít người Việt Nam có HIV mà dám công khai thân phận. Chị biết mình và chồng mình nhiễm bệnh, nhưng chị đã chiến thắng nỗi sợ hãi của bản thân để đóng góp sức lực còn lại cho cuộc đời. Tháng 02/2005 chị trở thành một thành viên cộng tác trong tổ chức Liên Hợp Quốc. Chị được Tạp chí Times bầu chọn là Anh hùng châu Á. 

3/ Dẫn chứng cho hành động thiết thực vì môi trường

Chiến dịch The Earth Hours (Giờ Trái Đất) do quỹ bảo tồn thiên nhiên quốc tế tổ chức đã nhận được sự hưởng ứng của 62 quốc gia, hướng đến con số 1 tỉ người trên 1000 thành phố tham gia. Tất cả đã tắt đèn vào ngày thứ Bảy cuối cùng của tháng Ba lúc 20 giờ 30 phút để ủng hộ các hoạt động nhằm giảm thiểu những nguy cơ của sự biến đổi khí hậu toàn cầu.

4/ Dẫn chứng về sự tin tưởng vào bản thân

Walt Disney là con thứ tư trong một gia đình nông dân nghèo, cha nghiện rượu và bài bạc. Mới lên sáu cậu đã phải ra đồng làm việc. Rất mê vẽ nhưng vì không có tiền mua giấy vẽ, màu vẽ, cậu đã dùng than để vẽ lên giấy vệ sinh. Sau này cái tên W. Disney đã trở nên nổi tiếng thế giới với những bộ phim hoạt hình thu hút hàng triệu người xem. W. Disney đã từng nói về bốn điều làm nên cuộc đời mình như sau:

  • Một là: Tin tưởng vào bản thân mình.
  • Hai là: Suy nghĩ về những giá trị mà mình muốn có.
  • Ba là: Mơ ước về những điều có thể đến dựa trên niềm tin vào bản thân và những giá trị của chính mình.
  • Bốn là: Can đảm để biến ước mơ thành hiện thực, dựa trên những niềm tin vào bản thân và những giá trị của chính mình.

5/ Nghị lực và tình yêu nghệ thuật là con đường dẫn đến thành công

Andersen sinh ra trong một gia đình nghèo ở thành phố Odense- Đan Mạch. Cuộc sống của cậu bé nghèo khổ, không lúc nào có đủ bánh mì để ăn. Khi đi học, cậu lại luôn bị bạn bè chê cười vì ngoại hình xấu xí. Vượt lên tất cả, Andersen nuôi ước mơ trở thành nghệ sĩ. Cậu đi lang thang lên thành phố thủ đô Copenhagen, chấp nhận đóng những vai kịch tầm thường, làm người quét dọn… Cuối cùng, nghị lực và tình yêu nghệ thuật đã giúp Andersen thành công. Những câu chuyện của Andersen mãi mãi in sâu trong tâm trí độc giả, mang lại cho trẻ thơ niềm hạnh phúc, thắp lên những ước mơ đẹp.

6/ Tình yêu và sự tận tụy làm nên một nhân cách lớn

Thầy giáo Lý Quế Lâm (người Trung Quốc) là giáo viên trường tiểu học làng Nhị Bình- Tứ Xuyên. Suốt 19 năm, thầy dẫn học trò đến trường, vượt qua 5 chiếc thang gỗ dựng đứng trên vách núi cheo leo. Thầy trở thành một trong 10 nhân vật cảm động của Trung Quốc năm 2008.

7/ Thành công từ thất bại và khổ ải

O. Henry (1862-1910) là nhà văn trứ danh của nước Mĩ. Ông chưa từng được hưởng bất cứ sự giáo dục nào từ bên ngoài. Ông lại còn hay bị bệnh tật giày vò. Từ thuở nhỏ, ông đi chăn bò, chăn dê, làm thuê làm mướn. Ông cũng từng làm kế toán nhưng bị tình nghi là ăn trộm tiền nên bị bắt bỏ tù. Sau khi ra tù, ông bắt đầu viết truyện ngắn và trở nên nổi tiếng. Tác phẩm của ông thu hút được nhiều người đọc, nghiên cứu và trở thành một nội dung bắt buộc học trong giáo trình đại học ở nước Mĩ.

8/ Uy tín, danh dự là điều quan trọng tạo nên giá trị con người

Vladimir Putin – Tổng thống Nga được tạp chí Times (Mĩ) bình chọn là “Nhân vật của năm 2007”. Bằng sự lãnh đạo khôn ngoan và tài tình của mình, ông đã vực dậy và đưa nước Nga trở lại là một cường quốc trên thế giới. Uy tín của ông Putin và cả nước Nga không chỉ có nước Mĩ, châu Âu mà cả thế giới phải tôn trọng. 

9/ Sức mạnh của nghị lực vượt lên trên những khuyết thiếu của bản thân

Ông Niu-tơn – nhà toán học, vật lí học, cơ học, thiên văn học vĩ đại người nước Anh. Khi sinh ra là một đứa trẻ yếu ớt, thường phải tránh những trò chơi hiếu động của bạn bè. Do đó ông đã tự tạo những trò chơi của riêng mình. Sức khỏe yếu nhưng ông luôn nuôi nghị lực và lòng kiên trì tìm tòi. Nghị lực của ông đã được đền đáp bằng những phát minh thế kỉ của ông.

10/ Dẫn chứng về sức mạnh của lòng dũng cảm

Từ khi loài người có cuộc sống tách khỏi cầm thú, hàng triệu năm họ luôn phải phấp phỏng lo sợ bởi sấm sét kinh hoàng. Franklin – nhà bác học Mĩ đã dũng cảm thực hiện thí nghiệm làm cột thu lôi. Công việc đó có thể gây ra cái chết cho ông bất cứ lúc nào. Sau nhiều năm đương đầu với sấm sét, năm 1752, Franklin đã thành công. Và bây giờ, loài người chúng ta đã không còn phấp phỏng nỗi lo sợ ngày xưa nữa.

11/ Tự tạo cơ hội cho mình nếu không thì chẳng bao giờ có cơ hội

Thuở thiếu thời, Picasso là một họa sĩ vô danh, nghèo túng ở Paris. Một lần ông sắp nhẵn túi, chỉ còn 15 đồng bạc, ông quyết định đánh canh bạc cuối cùng. Ông thuê sinh viên dạo qua các cửa hàng tranh và hỏi: “Ở đây có bán tranh của Picasso không?”. Chưa đầy một tháng sau, tên tuổi của ông đã nổi tiếng khắp Paris. Tranh của ông bán được rất nhiều và ông trở nên nổi tiếng từ đó.

12/ Thành công nhờ sự tự học và niềm đam mê công việc

Bill Gate sinh ra trong một gia đình khá giả ở Hoa Kì. Từ nhỏ, ông đã say mê toán học. Ông từng đậu vào ngành Luật của trường đại học Harvard, nhưng với niềm say mê máy tính, ông đã nghỉ học và cùng một người bạn mở công ty Microsoft. Vượt qua nhiều khó khăn, ông đã trở thành người giàu nhất hành tinh và hiện nay ông dành 95% tài sản của mình để làm từ thiện.

13/ Tấm gương nhà văn của nghị lực

Chị Trần Trà My sinh ra và lớn lên tại Đông Hà, Quảng Trị. Ngay từ bé, chị đã từng phải trải qua một ca đại phẫu thuật không thành công khiến đôi chân bị bại liệt, chị chỉ có thể nằm một chỗ và ú ớ nói không thành lời. Không thể đến trường, những tưởng cuộc sống sẽ chỉ loanh quanh trong 4 bức tường, nhưng không, chị bắt đầu tập viết. Khi những con chữ lành lặn ra đời, chị tập viết nên những cảm xúc, suy nghĩ của mình qua các tản văn, truyện ngắn… Với đam mê, chị đã trở thành một nhà văn. Đôi chân bước đi không vững, đôi tay chỉ có thể gõ máy tính bằng một ngón nhưng đến nay, nhà văn Trần Trà My đã cho ra đời 3 cuốn sách và nhiều bài báo. Chị đã làm được việc đó bằng một nghị lực chưa bao giờ cạn.

14/ Tấm gương người khuyết tật vượt lên hoàn cảnh

Hiệp sĩ công nghệ thông tin Nguyễn Công Hùng sinh ra trong một gia đình nghèo. Năm lên 2 tuổi, cậu bé mắc một căn bệnh khiến toàn thân bị bại liệt. Từ đó trở đi Hùng phải thường xuyên điều trị trong bệnh viện. Thương cha mẹ vất vả, bằng nghị lực cùng sự thông minh, năm 2003, anh đã thành lập “Trung tâm nghị lực sống” để dạy nghề và giới thiệu việc làm cho người khuyết tật. Hùng làm quen với máy tính và thế giới Internet đầy lôi cuốn đã làm tăng thêm nghị lực cho chàng trai khuyết tật. Anh bắt đầu phổ cập tin học cho thanh niên xã, giúp đỡ hàng trăm người khuyết tật và trẻ mồ côi tìm được việc làm phù hợp. Với những cống hiến không mệt mỏi của mình, năm 2005, Công Hùng được Tạp chí eChip phong là Hiệp sĩ Công nghệ thông tin, năm 2006, anh được Trung ương Đoàn bầu chọn là một trong 10 gương mặt trẻ tiêu biểu toàn quốc. Anh được trao tặng danh hiệu Hiệp sĩ công nghệ thông tin

VỀ NHÂN VẬT MẸ CHỒNG TRONG HAI CÂU CHUYỆN CỦA HAI THỜI ĐẠI: CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG (NGUYỄN DỮ) VÀ VỢ NHẶT (KIM LÂN)

Trong tác phẩm tự sự, nhân vật là linh hồn của tác phẩm, là hình tượng mang thông điệp của nhà văn. Khi xây dựng nhân vật, nhà văn có thể miêu tả đầy đủ các chi tiết từ lai lịch, ngoại hình, đến hành động, ngôn ngữ… Trong bài viết này chúng ta chỉ đề cập đến lời trăng trối của nhân vật bà mẹ Trương Sinh và độc thoại của nhân vật bà cụ Tứ để khám phá vẻ đẹp của những người mẹ chồng, những người phụ nữ bình dị sống ở những thời đại khác nhau nhưng lại có cùng một vẻ đẹp.

Ngôn ngữ của nhân vật văn học có tính cá thể hóa cao, mang đậm dấu ấn cá nhân, dấu ấn phong cách của nhà văn. Vì thế, việc lựa chọn lời thoại cho nhân vật là một dụng công nghệ thuật. Trong Chuyện người con gái Nam Xương (Nguyễn Dữ) và Vợ nhặt (Kim Lân), người đọc có lẽ ấn tượng không chỉ với nhân vật Vũ Nương, Trương Sinh, Tràng, thị, mà còn không quên hình ảnh hai người mẹ chồng. Dù xuất hiện theo cách ít, nhiều, trực tiếp hay gián tiếp nhưng xả hai nhân vật này đều mang đến những giá trị sâu sắc, đánh thức trong lòng người đọc bao lẽ đời.

1. Về người mẹ chồng của Vũ Nương

Trước hết, ta tìm hiểu lời thoại của mẹ chồng Vũ Nương (Chuyện người con gái Nam Xương). Vì tuổi già, vì lâm bệnh, mẹ Trương Sinh không thể kéo dài sự sống để chờ đợi con trai, bà đã trăng trối với con dâu: “Ngắn dài có số, tươi héo bởi trời… Chồng con nơi xa xôi không biết sống chết thế nào, không thể về đền ơn được. Sau này, trời xét lòng thành, ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ”.

Thật xúc động trước lời của mẹ chồng dành cho nàng dâu. Từ lời trăng trối ấy, ta nhận thấy mối quan hệ hai chiều trong tình cảm mẹ chồng – nàng dâu. Người mẹ thấu hiểu công lao và sự thơm thảo của con dâu trong những ngày Vũ Nương làm dâu phụng dưỡng bà. Điều này trong xã hội phong kiến không dễ dàng tìm thấy, bởi ca dao xưa vẫn có câu:

Trách cha trách mẹ nhà chàng

Cầm cân chẳng biết là vàng hay thau. 

(Ca dao)

Đặc biệt, mẹ chồng Vũ Nương đã nhắn nhủ con dâu bằng tất cả niềm tin, hy vọng “trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con cũng chẳng phụ mẹ”. Đó là sự ghi nhận công ơn nàng dâu. Người mẹ chồng nghĩ rằng công ơn con dâu đối với mình có trời xanh thấu hiểu, nên trời sẽ ban phúc. Đó là niềm tin, hy vọng vào đức cao của Vũ Nương. Niềm tin dựa vào đạo đức trong sáng của con người là điều không lạ, nhưng trong câu chuyện này, đó là niềm tin, hy vọng của mẹ chồng dành cho nàng dâu. Thật hiếm có người mẹ chồng nào thấu hiểu và thành thực ghi nhận công ơn của con dâu một cách sâu sắc, thấm thía như thế. Đó chính là chất nhân văn tỏa ra từ một lời thoại đầy xúc động. Chất nhân văn trong lời nói ấy không chỉ là tình thương yêu trân trọng mà còn là niềm tin chân thành, thánh thiện vào vẻ đẹp của con người. Chỉ có vẻ đẹp trong nhân cách con người mới làm cho người ta tin tưởng vào những điều tốt đẹp một cách mãnh liệt đến thế.

2. Về người mẹ chồng của “vợ nhặt”

Nếu như ngôn ngữ độc thoại của các nhân vật góp phần tạo nên giọng điệu riêng của nhà văn, thì lời độc thoại của bà cụ Tứ trong Vợ nhặt của Kim Lân là một trường hợp tiêu biểu. Trong rất nhiều chi tiết, nhiều lời thoại của bà cụ Tứ, có một lời thoại khiến ta luôn day dứt bởi chất nhân văn vút lên từ đó. Khi bà lão bất ngờ gặp thị, người đàn bà xa lạ ở trong nhà mình, ngồi ở đầu giường con trai bà, dù chưa hỏi chuyện, chưa nghe lời thưa gửi nhưng bà cụ Tứ đã nghĩ, đã hiểu: “Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được…”. 

Số phận ba con người trong Vợ nhặt được đặt trong bối cảnh phải đối diện với chỗ kiệt cùng của sự sống, cái đói và cái chết đang truy đuổi. Bà cụ Tứ và Tràng không thể lo nổi miếng ăn cho mình và ngày mai có thể cũng chỉ là bức tranh đen tối, chết chóc. Thế nhưng bà đã nhìn người đàn bà xa lạ tình cờ gặp gỡ, cô con dâu mới ấy bằng tấm lòng thương cảm, trân trọng và cả sự hàm ơn rất đặc biệt. Không những mình biết ơn mà còn biết ơn thay con trai mình. Lời nói của bà cụ Tứ chứa chan lòng nhân hậu bao la.

Không dễ gì để những người phụ nữ, người mẹ chồng trong những hoàn cảnh này lại có cách nhìn thấu tỏ như bà cụ Tứ. Bao quan niệm, bao định kiến như án ngữ tồn tại ngàn đời trong suy nghĩ của những người phụ nữ, người mẹ chồng. Và nhất là trong những cảnh ngộ, tình huống mà gia cảnh của mình không có cái ăn, cái mặc, lại phải đèo bòng lấy một cô con dâu rách như tổ đỉa, nghèo xơ xác, không ngọn nguồn… Với hoàn cảnh này, người ta thường sẽ hờn trách số phận, không chấp nhận dễ dàng, nghĩ phần hơn về mình chứ thật khó nghĩ cho người khác. Còn bà cụ Tứ đã vượt qua những rào cản quen thuộc ấy để chấp nhận nàng dâu một cách đơn giản mà vô cùng thấu hiểu. Dù là lời độc thoại nhưng ta có thể hình dung ánh mắt của bà dành cho nàng dâu mới qua ý nghĩ ấy. Thì ra, càng đối diện với sự kiệt cùng, con người ta càng có những suy nghĩ, cách sống giàu lòng nhân ái. Phải chăng đây chính là giá trị nhân văn sâu sắc của tác phẩm.

Hai nhân vật, hai bà mẹ chồng được xây dựng trong hai tình huống khác nhau, hai thời đại khác nhau nhưng ở họ đã có sự gặp gỡ. Đó chính là sự thấu hiểu lẽ đời, hiểu phận người, là tấm lòng nhân hậu, bao dung, tri ân sâu sắc. Chất nhân văn vút lên từ đó, khơi dậy cho người đọc tin vào vẻ đẹp nhân cách, tâm hồn của những người phụ nữ bình thường mà thánh thiện. Người nghệ sĩ là người làm giàu cho cuộc sống là vậy.

(Lê Thị Hoàng Anh-Quảng Bình)

TRÁN THI SĨ VƯỢT MÂY NHƯNG TRONG RUỘT THƠ VẪN CHÁY LÊN NGỌN LỬA ĐỜI RẤT ẤM

Tran thi si cham may nhung trong ruot tho van chay len ngon lua doi rat am

“Trán thi sĩ vượt mây nhưng trong ruột thơ vẫn cháy lên ngọn lửa đời rất ấm” (Xuân Diệu)

Nói về thơ Nguyễn Trãi, nhà thơ Xuân Diệu cho rằng” Trán thi sĩ chạm mây nhưng trong ruột thơ vẫn cháy lên ngọn lửa đời rất ấm”. Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Bằng những hiểu biết về thơ Nguyễn Trãi, hãy làm sáng tỏ.

Cứ như là biển rì rầm, là gió mênh mang, cứ như chiều về đong đầy trong đôi mắt ưu tư của bao người một niềm xúc cảm, có phải văn học là chốn tìm về của những trái tim rung động, là thứ ánh sáng diệu kì rọi vào sâu thẳm cõi lòng người? Lang thang trong những nẻo đường văn học, ta bắt gặp cái nhẹ nhàng, giản dị mà thanh cao toát ra từ hồn thơ Nguyễn Trãi-một nhà thơ lớn của dân tộc. Những tác phẩm ông để lại cho đời tựa như đang cựa mình thức giấc, hướng tới chỗ sâu kín, thiết tha và cao đẹp nhất trong tâm hồn người, làm khơi dậy bao nhiêu tình cảm đẹp. Nó xứng đáng là những vì sao rực rỡ nhất trong bầu trời lấp lánh bao vì tinh tú của thi ca dân tộc. Nhận xét về thơ Nguyễn Trãi, Xuân Diệu viết: “Trán thi sĩ chạm mây nhưng trong ruột thơ vẫn cháy lên ngọn lửa đời rất ấm”.

Cho dù dòng thời gian chảy trôi theo quy luật nghiệt ngã của nó có thể khiến nhiều thứ chìm vào lãng quên. Nhưng những vần thơ thấm đẫm tình đời, tình người của Nguyễn Trãi thì sẽ sống mãi trong trái tim của bao người. Sự nghiệp văn chương của ông góp vào dàn đồng ca văn học những tiếng đàn tuyệt diệu mãi ám ảnh, lưu luyến, vấn vương trong tâm hồn của bao người. Hình ảnh “Trán thi sĩ chạm mây” chỉ tư tưởng thanh cao, thoát tục, không màng danh lợi, phú quý. Ông luôn muốn từ bỏ chốn đua chen, thị phi để trở về thiên nhiên, với cỏ cây hoa lá để tìm sự thanh sạch cho tâm hồn. Nhưng trở về với thiên nhiên không có nghĩa là ông quay lưng với cuộc đời, rũ bỏ tất cả mọi thứ mà trái lại, thơ Nguyễn Trãi lúc nào cũng “cháy lên ngọn lửa đời rất ấm”. Trong sâu thẳm cõi lòng, ông luôn đau đáu hướng về cuộc đời, hướng về dân, về nước bằng một tình yêu tha thiết.

Dù cuộc đời bị bọn gian thần ghen ghét, ganh đua nhưng Nguyễn Trãi vẫn như đóa sen thanh cao, trong sạch nở giữa chốn bùn lầy. Nhà thơ như con ong cần mẫn bay lượn trong khu rừng để hút mật ngọt từ cảnh sắc thiên nhiên, cuộc đời để làm no nê cho thơ. Từng câu, từng chữ ngân vang, xuyên thấm vào tâm hồn người những cảm xúc dạt dào chảy mãi không thôi. Bằng những vần thơ sâu lắng, thi sĩ đã dẫn ta vào thế giới của cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp. Nơi bình yên, thanh tĩnh, nơi những tư tưởng thanh cao, thoát tục thăng hoa.

Tâm hồn Nguyễn Trãi chợt xao xuyến bởi những lời gọi thiết tha, giục giã của thiên nhiên Côn Sơn:

“Côn Sơn suối chảy rì rầm

Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai

Côn Sơn có đá rêu phơi

Ta ngồi trên đá như ngồi nệm êm

Trong rừng thông mọc như nêm

Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm

Trong rừng có bóng trúc râm

Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn”.

(Côn Sơn ca)

Trong cảm nhận của nhà thơ, cảnh vật hiện ra thật thơ mộng, trữ tình, thanh bình, yên ả. Với Ức Trai, suối là đàn, rêu là chiếu, bóng râm làm giường, bóng trúc là nơi ngâm thơ. Ông thả hồn vào thiên nhiên như người bạn tâm tình.

Trong những trang thơ, Nguyễn Trãi hiện lên với một phong thái ung dung, nhàn tản, vui với cảnh sống đơn sơ và mộc mạc, giản dị ở chốn thôn quê:

“Ao cạn vớt bèo cấy muống

Đìa thanh phát cỏ ương sen”

Hiện ra trước mắt chúng ta không phải là một công thần khanh tướng mà là một lão nông tri điền sớm chiều vác cuốc ra vườn để mà “cấy muống”, “ương sen”. Hai câu thơ gợi ta liên tưởng đến lối sống nhàn dật của Nguyễn Bỉnh Khiêm:

“Một mai, một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dù ai vui thú nào”

hay lối sống giản dị, thanh cao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm tháng gian khổ:

“Sáng ra bờ suối tối vào hang

Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng”

Nguyễn Trãi đã để trái tim mình hòa vào thiên nhiên, vui thú với cảnh sắc dân dã mà không vướng bận chuyện đời. Nguyễn Mộng Tuân từng viết về Nguyễn Trãi: Gió tây hây hẩy gác vàng… người như một ông tiên ngồi trong tòa ngọc. Cái tài hay làm đẹp cho đất nước từ xưa chưa có bao giờ”. Thật vậy, Nguyễn trãi như ông tiên ngồi trong lầu ngọc, thả hồn mình vào thiên nhiên, đón nhận thiên nhiên bằng tất cả tâm hồn. Ức Trai yêu thiên nhiên đến độ sợ làm bị thương cảnh vật. Ông nâng niu từng mảnh trăng muộn, từng cánh hoa tàn:

“Viện có hoa tàn chăng quét đất

Nước còn nguyệt hiện sá thôi chèo”

Về với ruộng vườn, với sông nước khói mây, thả mình vào thiên nhiên tạo vật nhưng Nguyễn Trãi không bao giờ quay lưng với cuộc sống. Thơ ông vẫn luôn bừng cháy một “ngọn lửa đời rất ấm”, luôn thường trực một tấm lòng âu lo cho dân, cho nước, cháy bỏng một khát khao làm cho đất nước thanh bình, cuộc sống của nhân dân giàu đủ. Ông mơ ước có cây Ngu cầm gảy lên khúc Nam phong cho cuộc sống của nhân dân được vui vầy, hạnh phúc:

” Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng

Dân giàu đủ khắp đòi phương”

Trong khoảnh khắc ấy, Nguyễn Trãi bỗng hóa thành cây đàn họ Ngu, chỉ cần ngân lên là phép lạ sẽ rưới xuống muôn dân một trời mưa hạnh phúc. Đó là khát khao sâu kín và cháy bỏng suốt một đời của Nguyễn Trãi. Tấm lòng Nguyễn Trãi lúc nào cũng đau đáu hướng về đất nước, về nhân dân. Tấm lòng Nguyễn Trãi lúc nào cũng đau đáu hướng về đất nước, về nhân dân. Ông gọi đó là lòng ưu ái, lòng trung hiếu không lúc nào phôi phai được:

“Bui một tấc lòng ưu ái cũ

Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông”.

Cõi thơ Ức Trai luôn dào dạt một tấm lòng yêu đời tha thiết. Dù ở trong bất kì hoàn cảnh nào, ông vẫn tha thiết hướng đến cuộc đời, vẫn khát khao hòa nhập với cuộc sống. Ông viết trong bài thơ “Cảnh ngày hè” những vần thơ dào dạt sức sống:

“Lao xao chợ cá làng ngư phủ

Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”.

Tiếng “lao xao” chợ cá là âm thanh bình thường và gần gũi biết bao, nó gợi vẻ nhộn nhịp, náo nức của cuộc sống thường nhật. Nguyễn Trãi đang lắng nghe những âm thanh bình dị từ cuộc sống đủ thấy tâm hồn ông gần gũi, gắn bó với nhân dân biết chừng nào. Cái buồn bã thường thấy của lầu tịch dương như bị xua tan bởi cái réo rắt của tiếng cầm ve. Câu thơ gợi nhắc đến những vần thơ Tố Hữu:

“Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình”.

Nhắc đến Nguyễn Trãi là nhắc đến một trái tim suốt đời âu lo cho dân cho nước; nhắc đến tư tưởng nhân nghĩa với chiều sâu và tầm cao giá trị xuyên suốt mấy trăm năm; nhắc đến tình đời, tình người thiết tha, sâu nặng như Tố Hữu từng viết:

“Nghe hồn Nguyễn Trãi phiêu diêu

Tiếng gươm khua tiếng thơ kêu xé lòng”.

Oan án Lệ Chi Viên đã giết chết một thiên tài nhưng những gì ông để lại cho dân cho nước thì muôn đời bất tử. Con người ấy, hồn thơ ấy mãi mãi là cây đại thụ tỏa bóng mát cho ngàn sau. Nguyễn Trãi sẽ sống mãi trong lòng bạn đọc cũng như ngọn lửa đời đời mãi cháy trong thơ ông.

Trần Thị Đinh Huệ

Ở ĐÂU CÓ LAO ĐỘNG THÌ Ở ĐÓ CÓ SÁNG TẠO RA NGÔN NGỮ

Tran thi si cham may nhung trong ruot tho van chay len ngon lua doi rat am

Ở đâu có lao động thì ở đó có sáng tạo ra ngôn ngữ…

“Ở đâu có lao động thì ở đó có sáng tạo ra ngôn ngữ. Nhà văn không chỉ học tập ngôn ngữ của nhân dân mà còn là người phát triển ra ngôn ngữ sáng tạo. Không nên ăn bám vào ngôn ngữ của người khác. Giàu ngôn ngữ thì văn hay  (…). Cũng cùng một vốn ngôn ngữ ấy, nhưng sử dụng nó sáng tạo thì văn sẽ có bề thế và kích thước. Dùng chữ như đánh cờ tướng, chữ nào để chỗ nào phải đúng vị trí của nó. Văn phải linh hoạt. Văn không linh hoạt là văn cứng đơ, thấp khớp”. (Nguyễn Tuân)

Bình luận ý kiến trên đây của nhà văn Nguyễn Tuân và bằng thực tế cảm nhận văn học của mình làm rõ những vấn đề mà nhà văn đặt ra.

(Đề thi chọn học sinh giỏi Văn toàn quốc năm học 1994-1995, bảng B).

Bài làm

          Âm nhạc sẽ không xuất hiện và sẽ không làm rung động lòng người nếu cuộc sống không kì diệu với muôn nghìn âm thanh trầm bổng. Âm thanh là phương tiện biểu hiện của âm nhạc cũng như ngôn ngữ làm nên thế giới văn chương. Nhà văn là kĩ sư tâm hồn với chất liệu ngôn ngữ trong tay, phải học hỏi, sáng tạo để cấu thành tác phẩm. Tác phẩm có thể trở thành vốn liếng tinh thần quý báu của nhân loại hay không tùy thuộc vào nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật biểu hiện. Nghệ thuật văn chương là nghệ thuật biểu hiện ngôn từ. Tìm hiểu, khám phá và sáng tạo không ngừng để mỗi dòng, mỗi chữ viết ra đều được chắt lọc tinh tế, độc đáo đủ sức thuyết phục lòng người và lắng động lại với thời gian, cuộc sống. Nhà văn Nguyễn Tuân khẳng định với những người viết văn trẻ:

“ Ở đâu có lao động thì ở đó có sáng tạo ra ngôn ngữ. Nhà văn không chỉ học tập ngôn ngữ của nhân dân mà còn là người phát triển ra ngôn ngữ sáng tạo. Không nên ăn bám vào ngôn ngữ của người khác. Giàu ngôn ngữ thì văn sẽ hay (…). Cũng cùng một vốn ngôn ngữ ấy, nhưng sử dụng nó sáng tạo thì văn sẽ có bề thế và kích thước. Dùng chữ như đánh cờ tướng, chữ nào để chỗ nào phải đúng vị trí của nó. Văn phải linh hoạt. Văn không linh hoạt là văn cứng đơ, thấp khớp”.

          Văn chương là tiếng nói của tâm hồn, dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, văn chương cũng muốn đem cái đẹp vào cuộc sống. Thế giới bao la với muôn nghìn sự kiện luôn sôi động, văn học là tấm gương phản ánh hiện thực cuộc sống nhưng là sự phản ánh có chọn lọc. Thế giới khách quan được nhìn qua thế giới chủ quan của tác giả, hiện thực sinh động được khái quát cụ thể, độc đáo trong tác phẩm văn chương. Nhà văn chân chính làm con ong miệt mài đi hút nhụy hoa, sương đêm lắng động để làm nên mật ngọt cho đời, và ngôn ngữ là phương diện thiết yếu giúp nhà văn sản sinh ra hương mật văn chương. Bông hoa kia, dù ngọt ngào hương sắc đến đâu, giọt sương đêm dù tinh sạch hơn cả khí trời, vẫn là vô dụng nếu chú ong không thể tạo những giọt mật thơm lành.

          Văn chương bắt nguồn từ lao động và qua lao động, con người sáng tạo ra ngôn ngữ. Con người dùng ngôn ngữ để giao tiếp, qua cách nói, viết thư, trao đổi. Nhưng cuộc sống vốn vận động và phát triển không ngừng, không chỉ dừng lại ở mức độ giao tiếp ấy, ngôn ngữ được sử dụng đa dạng hơn, mang tính thẩm mĩ cao hơn, đó là ngôn ngữ văn chương. Tiếng nói tình cảm của con người mang nhiều sắc thái, cung bậc khác nhau, ngôn ngữ cũng biến hóa kì diệu khôn lường để đáp ứng nhu cầu bày tỏ ấy. Từ thủa xa xưa, khi chưa có chữ viết, dân gian ta sáng tạo nên dòng văn chương truyền miệng, và từ đó đến nay, những tác phẩm dân gian vẫn tồn tại. Thế mới biết sức sống của ngôn ngữ mãnh liệt đến nhường nào! Lao động giúp con người tồn tại và lao động giúp con người sáng tạo ra ngôn ngữ để giao tiếp, bày tỏ cảm xúc. Những ngôn ngữ từ thủa mới khai sinh chỉ là một thứ tiếng nói thô sơ. Văn chương là một loại hình nghệ thuật ra đời giúp con người tìm đến với nhau. Nhà văn qua tác phẩm bày tỏ tâm tư, ước vọng với cuộc đời và con người trong xã hội.

          Ngôn ngữ của cuộc đời thường là một loại quặng còn lẫn tạp chất. Nhà văn làm công việc của người tình nguyện loại bỏ những chất thải để đúc lại thứ kim loại hoàn hảo hơn, đủ sức lóng lánh phản chiếu tâm hồn. Nhà văn Nguyễn Du là đứa con máu thịt của dân tộc Việt Nam, tác giả sinh ra, lớn lên trong lòng tiếng Việt, ấp ủ, nuôi dưỡng “nỗi đau đời” để tạo nên tác phẩm Truyện Kiều bất diệt. Tác phẩm cũng là ngôn ngữ của nhân dân, thứ ngôn ngữ mà chúng ta hiểu và cảm thông sâu sắc. Đã mấy thế kỉ trôi qua, Truyện Kiều vẫn được đánh giá là một viên ngọc toàn bích về nghệ thuật, không một vết xước, không chút bụi mờ. Phải chăng Nguyễn Du đã làm công việc gạn lọc ngôn ngữ đời thường, tinh luyện, nâng niu từng chữ, từng câu để tạo nên vẻ đẹp tuyệt diệu đó? Nhưng dù có gạn lọc đến đâu, có đãi cát tìm vàng đi chăng nữa thì vốn liếng ấy cũng là ít ỏi so với một tác phẩm vĩ đại, cái tài, cái khổ luyện như của Tố Như nào ở chỗ tác giả “không chỉ học tập ngôn ngữ của nhân dân mà còn là người phát triển ra ngôn ngữ có sáng tạo”. Quả thật, nếu không làm được công việc đó, Truyện Kiều sẽ không được truyền tụng và hấp dẫn đến tận hôm nay. Hơn hai trăm năm, Truyện Kiều vẫn khiến muôn thế hệ phải rỏ từng giọt lệ xuống thương nàng Kiều. Ngôn ngữ Truyện Kiều đầy sức lay động, thuyết phục đến mức không thể nào thay thế được nữa. Nguyễn Du đã sử dụng và phát triển, sáng tạo ngôn ngữ có sức sống lâu bền nhất, hoàn hảo nhất. Từ một câu thơ chữ Hán của Thôi Hiệu, Nguyễn Du chuyển sang chữ Nôm đã trở nên đậm đà, gần gũi với dân tộc:

Nhân diện bất tri hà xứ khứ

Đào hoa y cựu tiếu đông phong

                                               (Đề đô thành Nam Trang- Thôi Hiệu)

Trước sau nào thấy bóng người

Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông

                 (Kim Trọng trở về vườn Thúy-Nguyễn Du)

Câu thơ chữ Hán là tâm trạng của Thôi Hiệu trước cảnh cũ nhớ người xưa, nhưng vào ngòi bút của Tố Như bỗng bồi hồi xao xuyến tâm trạng chàng Kim nhớ thương người yêu. Tài năng của nhà thơ không chỉ là sự phát hiện sáng tạo ra cái mới mà còn là cách sử dụng tài tình, biến cái cũ thành cái mới mang sắc thái nhuần nhị hơn biểu cảm hơn. Nhưng con người vốn phong phú, đa dạng, đòi hỏi phải có nhiều cách biểu hiện khác nhau. Ngôn ngữ văn chương là tiếng nói riêng của mỗi nhà văn về cuộc đời-nó phải chinh phục người đọc. Cùng một sự việc nhưng mỗi góc độ sẽ có cách nhìn khác nhau. Văn chương nếu chỉ là lặp lại thì sẽ không tồn tại được lâu dài. Nhà văn phải sống cuộc sống với nhân dân. Cuộc đời là trường học của những nhà văn tâm huyết, cuộc đời sẽ giúp nhà văn tích lũy được vốn sống, ngôn ngữ phong phú. Tư tưởng dù có vĩ đại bao nhiêu mà nghèo nàn biểu hiện thì cũng trở nên vô ích. Nội dung phải phù hợp với hình thức. Hai yếu tố thống nhất sẽ làm nên một tác phẩm hoàn chỉnh cũng như tư tưởng lớn được diễn đạt với một vốn ngôn ngữ đa dạng, hình thức thích hợp. Cùng một giọt nước mắt của nàng Kiều nhưng mỗi lần Kiều khóc, Tố Như lại có một cách diễn đạt khác nhau. Và cứ thế, từ đầu đến cuối tác phẩm, người đọc bị cuốn hút, say mê, bị dằn vặt bởi nỗi đau nàng Kiều, mà mỗi lần cay đắng khác nhau, muôn hình muôn vẻ, phức tạp như chính cuộc sống thực. Cũng là nỗi niềm cô đơn làm Kiều trăn trở, day dứt thâu đêm, nhưng trong mỗi hoàn cảnh, sự cô quạnh đó nhuốm sắc thái thật riêng:

Một mình mình biết một mình mình hay.

          Câu thơ tám chữ với bốn lần lặp lại chữ mình sao chua xót, bẽ bàng đến thế! Ngôn ngữ trong tay Nguyễn Du biến hóa diệu kì như vẻ đẹp tiếng Việt thâu tóm dưới đầu ngọn bút: “Nỗi riêng riêng chạnh tấc riêng một mình”. Với những chữ “riêng” lặp lại đến ba lần. Tố Như làm người đọc phải giật mình thảng thốt vì thương cho phận nàng Kiều. Ngôn ngữ trong Đoạn trường tân thanh chẳng những giàu mà lại đẹp đến mức diệu kì. Nếu Nguyễn Du không tích lũy được cho mình một “đội quân từ ngữ” hoàn chỉnh đến thế thì truyện Kiều rất dễ làm người đọc nhàm chán biết bao. “Giàu ngôn ngữ thì vẫn sẽ hay” nhưng có vốn mà không biết sử dụng thì chỉ như nhà giàu giữ của. Ngôn ngữ của cuộc đời thường vào tác phẩm phải là những dòng ngôn ngữ văn chương giàu tình cảm, giàu sức biểu hiện. Có những từ là “nhãn tự” của thơ thì mới có những khổ thơ, bài thơ xuất thần, độc đáo. Nhà văn làm công việc chọn lựa ngôn từ sao cho từ nào đắc ý nhất, đúng chỗ của nó nhất. Khi miêu tả Thúy Kiều với đôi ba nét, Nguyễn Du đã báo trước số phận của nàng:

Làn thu thủy nét xuân sơn

Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.

(Trích Chị em Thúy Kiều)

Những sinh vật vô tri làm sao có thể ghen, hờn trước nhan sắc con người. Hay phải chăng định mệnh trớ trêu đã để mắt tới người con gái tài sắc vẹn toàn ấy. Chỉ dùng một hai chữ thôi nhưng đủ sức diễn tả, dự báo cả cuộc đời nhân vật, thế chẳng là tài tình lắm sao!

Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như

(Trích Độc Tiểu Thanh kí)

Tiếng “khấp” của thi hào vĩ đại Việt Nam vẫn vang vọng hằng bao thế kỉ, đi giữa lòng người để nói về nỗi đau đời chất chứa trong tim. Nhà văn không sử dụng tiếng “khốc” mà lại là tiếng “khấp”: tiếng nức nở trong tâm hồn, mặn xót, tái tê, nước mắt chảy ngược vào hồn nên ngàn năm còn thương, còn xót. Tố Như để lại cho đời sau mọt di sản tinh thần đồ sộ và phong phú, đọc văn chương của ông ta không thể lơ là khi sử dụng tiếng Việt. Ngôn ngữ làm nên văn chương và văn chương có sức mạnh xây dựng hay tàn phá. Phải trân trọng và biết sử dụng ngôn ngữ thì mới có thể sáng tác nên những tác phẩm hay, độc đáo.

          Văn chương là tấm gương phản ánh cuộc sống nhưng không có nghĩa là bê nguyên cuộc sống vào tác phẩm, mà văn chương tái hiện và tái tạo cuộc sống.

          Nhà văn phải nói lên khát vọng của nhân dân, dự báo mọi điều đang đến và sẽ đến trong tương lai. Do đó, văn chương là loại hình nghệ thuật tuyệt vời nhất, đậm đà tình cảm nhất. muốn văn chương thật gần gũi với quần chúng, nhà văn phải nói lên được khát vọng của họ với cuộc đời, sao cho mỗi tác phẩm đều đem đến cái đẹp cho cuộc đời. “Văn phải linh hoạt. Văn không linh hoạt gọi là văn cứng đơ thấp khớp”. Sự linh hoạt của văn chương tức là sự linh hoạt của nhà văn khi lao động, sáng tạo nghệ thuật, sao cho mỗi hình tượng nghệ thuật đều có sức trường tồn với thời gian.

          Văn chương nếu bê nguyên cuộc đời vào tác phẩm thì chẳng có gì đáng nói, mà nói phải là “người lạ mà quen biết” (Biêlinxki). Nhà văn, nhà cảm nhận cuộc sống theo cách riêng của mình, đôi khi điều đó trái với quy luật nhưng lại phù hợp với tâm hồn người, nó được bạn đọc chấp nhận:

Ngoài thềm rơi chiếc lá đa

Tiếng rơi nghe mỏng như là rơi nghiêng.

                                           (Đêm Côn Sơn-Trần Đăng Khoa)

          Với cảm nhận độc đáo của mình, Trần Đăng Khoa đã táo bạo nghe âm thanh (thính giác) bằng đôi mắt (thị giác). “Tiếng rơi rất mỏng” như vết cắt nhẹ nhàng của chiếc lá phiến diện “rơi nghiêng”; đêm sau chiến tranh không gian lại yên tĩnh đến thế ư? Cách diễn đạt, sử dụng ngôn từ mới mẻ của mình đã làm nên một hiện tượng ngôn ngữ thật đẹp.

          Ngôn ngữ trong văn chương đa dạng, phức tạp như chính cuộc sống hằng ngày. Qua bàn tay tôi luyện của nhà văn, ngôn ngữ ấy làm nên sự phong phú của văn chương. Lời khẳng định của Nguyễn Tuân là một lời khuyên đáng quý cho những người bước vào ngưỡng cửa viết văn và cả cho những ai yêu thích sự sáng tạo văn chương. Nhưng điều đó không có nghĩa là rơi vào chủ nghĩa hình tượng, bỏ quên nội dung tư tưởng tác phẩm, mà một tác phẩm hay là sự kết hợp hoàn hảo giữa nội dung và hình thức nghệ thuật, sao cho đó là những bông hoa hương sắc vẹn toàn. Và muốn nghiên cứu ngôn ngữ văn chương ta sẽ luôn nhớ đến lời khuyên của nhà văn Vang bóng một thời:

“Ở đâu có lao động thì ở đó có sáng tạo ra ngôn ngữ…”

(Nguyễn Thị Bích Ngọc- Cần Thơ).

THƠ TRƯỚC HẾT LÀ CUỘC ĐỜI, SAU ĐÓ MỚI LÀ NGHỆ THUẬT

Tran thi si cham may nhung trong ruot tho van chay len ngon lua doi rat am

(Bài làm của học sinh Đinh Thị Mĩ Huỳnh- Chuyên Lê Hồng Phong- TP Hồ Chí Minh).

            Những vần thơ Anđécxen, những vần thơ ngân vang từ thung lũng Oodenzơ, nơi có những hẻm núi sương giăng mờ ảo và những vòm hoa thạch thảo tim tím nên thơ đã gieo vào tâm hồn nhà văn Pauxtoopsxki niềm xúc cảm mãnh liệt: “Anđécxen đã lượm lặt hạt thơ trên luống đất của người dân cày, ấp ủ chúng nơi trái tim ông rồi gieo vào những túp lều, từ đó lớn lên và nảy nở những bó hoa thơ tuyệt đẹp, chúng an ủi trái tim những người cùng khổ”. Thơ ca, hai chữ kì diệu mà muôn đời vẫn chưa tìm ra một định nghĩa trọn vẹn, hoàn chỉnh. Thơ là gì? Thơ bắt nguồn từ đâu? Thơ có mãnh lực gì khiến cung đàn cảm xúc của triệu triệu con người trên trái đất này không ngừng lay động thổn thức xuyến xao? Phải chăng “thơ” ở đây như trong lời bình của nhà văn học Nga V.Bêlinxki vào thế kỉ mười chín: “Thơ trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật”.

            Từ thủa thơ ca xuất hiện mang đến hơi thở ấm áp cho hành tinh xanh xanh những đại dương và điệp trùng những cánh rừng tươi thắm của chúng ta, có thể nói chưa bao giờ tổng kết được những định nghĩa về thơ. Có người cho thơ là “lơ tơ mơ”, “thơ là sự tuôn trào bột phát những tình cảm mãnh liệt”, thậm chí “thơ là một cái gì mà người ta không định nghĩa được”. Phải chăng vì thế mà thơ thuộc về cõi huyền nhiệm, mông lung, xa vời vợi? Không, theo quan niệm của Bêlinxki, chữ “cuộc đời” như một vì sao được chiếc đòn bẩy “trước hết” bật vào từ thơ, làm sáng lên một ánh lung linh, rạng rỡ. Thơ ca bắt nguồn từ cuộc sống.

            Cuộc sống bao giờ cũng là nguồn cảm hứng mênh mông bất tận của những tâm hồn nghệ sĩ. Thơ ca cũng như văn chương và các loại hình nghệ thuật khác, nếu không bám rễ vào cuộc đời, nếu không hút nguồn nhựa sống dạt dào ngầm chảy trong lòng cuộc sống thì nó sẽ mãi mãi là một cây non èo uột, không mang trên mình những cành cây săn chắc, những phiến lá xanh tươi phơi phới dưới ánh nắng mặt trời. Là nhà thơ, ngòi bút của anh phải chấm vào nghiên mực cuộc đời thì thơ anh mới tươi màu neo chặt trong bến tâm hồn người thưởng thức. Anh sĩ Lê Quý Đôn từng nói: “Trong bụng không có ba vạn quyển sách, trong mắt không có cảnh núi non kì lạ của thiên hạ thì không thể làm thơ được”. Có thể nói cuộc đời là mạch sữa ngọt ngào tuôn chảy không ngừng từ thế hệ này sang thế hệ khác để nuôi dưỡng thi ca. Đến với Chế Lan Viên, một “triết gia thi sĩ”, ta không quên giây phút con người ấy rơi vào hố sâu tuyệt vọng của sự chán chường:

“Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh

Một vì sao trơ trọi giữa trời xa

Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh

Những ưu phiền, đau khổ với buồn lo”.

            Thế mà cuộc sống mới chan hòa hơi thở nồng ấm của cách mạng đã làm tan mọi băng giá trong trái tim thi sĩ. Người sà vào lòng nhân dân, sung sướng đón nhận nguồn cảm hứng thi ca từ cuộc đời:

“Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ

Cỏ đón giêng hai chim én gặp mùa

Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa

Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa”

                     (Tiếng hát con tàu-Chế Lan Viên)

            Cuộc sống mênh mông và kì diệu làm sao! Cuộc sống là nơi cung cấp chất liệu cho thơ. Thơ ca bắt nguồn từ cuộc sống, cho nên thơ bao giờ cũng chứa đựng bóng hình cuộc sống, bóng hình con người. Thơ ca là nơi con người gửi gắm tâm tình, ước mơ, khát vọng, những băn khoăn, rạo rực, ưu tư. Thơ ca không thể tách rời cuộc đời. Cuộc đời ban truyền nguồn nhựa sống mãnh liệt cho thơ và thơ nở hoa làm đẹp cuộc đời, cống hiến cho con người những phút giây tuyệt vời lắng đọng nhiều nỗi suy tư. Đến với thơ, người đọc trước hết sẽ bắt gặp tâm tư, nỗi lòng của người cầm bút, sau đó sẽ gặp chính tâm tư của mình bởi thơ là “tiếng nói đồng ý, đồng tình, đồng chí”. Cùng với văn chương, thơ ca trở nên những nhịp cầu vô hình dẫn dắt những tâm hồn đến với tâm hồn đến với trái tim để con người cùng sẻ niềm vui, nỗi buồn, ước mơ, hy vọng.

            Cuộc đời vốn bao la, vô tận kia như một bức tranh với ba chiều không gian trải dài đến vô cùng. Nhà thơ cũng như những con ong cần mẫn bay lượn trong khu vườn cuộc đời ấy:

“Nhà thơ như con ong biến trăm hoa thành một mật

Một mật ngọt thành, đời vạn chuyến ong bay”

                                    (Chế Lan Viên)

            Thơ ca “là cuộc đời”, nhưng thơ ca không phải là những trang giấy in nguyên vẹn bóng hình của cuộc đời rộng lớn. Người nghệ sĩ phải tìm đến cuộc đời để hút lấy chất mật tinh túy nhất, ngọt ngào nhất để tạo nên những vần thơ thật sự có giá trị. Nhà thơ phải biết chắt lọc chất liệu mà cuộc đời cung cấp, từ đó mới tạo nên những vần thơ hay, làm rung động lòng người đọc. Thi ca gắn liền với cảm xúc. Nhà thơ không thể hiện cuộc đời qua những tình huống, qua những sự kiện như các nhà văn. Nhà thơ giãi bày bằng cảm xúc, bằng ngôn ngữ thi ca, bằng cả “khoảng trắng giữa các ngôn từ”. Thơ ca có giá trị không tách rời sự thoát li, tách rời khỏi cuộc sống, cũng như sự photocoppy cuộc sống một cách cứng nhắc, khuôn mẫu. Đọc thơ mà chẳng tìm thấy nỗi lòng nhà thơ, đấy chẳng phải là thơ ca đích thực! Nếu không có một thiên tài Nguyễn Du uyên bác, ta không thể có “Truyện Kiều”. Nhưng nếu không có những lầm than cơ cực, đắng cay, tủi nhục cùng với những ước mơ cháy bỏng của nhân dân trong xã hội phong kiến, trong buổi suy vong đầy ngột ngạt, ta cũng không thể có những trang Kiều thấm đượm dòng lệ đầy chất nhân bản sâu xa.

            Nếu không có một vùng quê Kinh Bắc êm ả, bình dị với những con người chăm chỉ, hiền hòa, mãi mãi ta không thể nào có được nỗi nhớ rạo rực thiết tha của thi sĩ Hoàng Cầm trong bài “Bên kia sông Đuống”:

Em ơi buồn làm chi

Anh đưa em về bên kia sống Đuống

Ngày xưa cát trắng phẳng lì

…Xanh xanh bãi mía bờ dâu

Ngô khoai biêng biếc

Đứng bên này sông sao nuối tiếc

Sao xót xa như rụng bàn tay”.

            Thơ bao giờ cũng in đậm chữ “đời” trước hết. Cuộc đời không chỉ ban cho nhà thơ nguồn cảm hứng mà cuộc đời còn là nơi khai thác “chất quặng” nguồn từ để tạo nên thơ:

“Vạt áo của nhà thơ không bọc hết bạc vàng mà cuộc đời rơi vãi

Hãy nhặt lấy chữ của đời mà góp nên trang”

(Chế Lan Viên)

            Thơ ca là hoa thơm của cuộc đời. Nếu chỉ được kiến tạo từ trí tưởng tượng và “cái tôi” nhỏ bé của người nghệ sĩ, thơ ca chỉ là những bông hoa làm bằng “vỏ bào” (Pauxtopki). Nhà thơ phải nhặt những hạt “bụi quý” trong cuộc đời mênh mông vô tận để làm nên những “bông hồng vàng” quý giá, đem lại niềm vui và cái đẹp cho tâm hồn người đọc thơ, hiểu thơ và yêu thơ, theo cách diễn đạt của Pauxtôpxki.

            Trở lại câu nói của nhà phê bình Bêlinxki, ta thấy đó không phải là cái nhìn phiến diện. “Thơ trước hết là cuộc đời” nhưng cuộc đời chưa phải là tất cả. BêlBeelki rời phím nhấn “cuộc đời” ấn tay vào phím cạnh bên “nghệ thuật”. Như vậy BêlBeelki đã không phủ nhậ vai trò quan trọng của yếu tố làm nên thi ca này. Thiếu nghệ thuật, thơ chỉ còn là hòn ngọc thô không mài không giũa, không thể khơi dậy trong trái tim con người những rung động sâu xa. Thơ có thể ví như cánh diều bay bổng trên bầu trời cao rộng, nâng cảm xúc đến mức thăng hoa. Ta yêu “Truyện Kiều” đâu phải chỉ vì “đoạn trường tân thanh” xé ruột cất lên từ quãng đời mười lăm năm lưu lạc truân chuyên của cánh hoa Thúy Kiều tài sắc. Người Việt Nam yêu “Truyện Kiều” vì những “ngôn ngữ gấm hoa” giàu sức biểu cảm, vì âm hưởng ca dao dịu dàng, man mác trong lục bát thân thương:

“Long lay đáy nước in trời

Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng”

            Cảnh mùa thu long lanh, mĩ lệ đọng đầy chất thơ ấy có lẽ còn sống mãi trong lòng người dân đất Việt đến nhiều thế kỉ mai sau.

            Thơ cất lên từ biển cuộc đời và bay cao từ nguồn gió nghệ thuật. Nghệ thuật làm cho thơ trở nên đẹp đẽ, gieo vào dòng người đọc những cảm xúc thẩm mĩ tuyệt vời. Một nhà thơ tài năng phải là một người thợ lặn lành nghề lặn sâu vào đại dương cuộc sống, không phải để nhặt nhạnh mảnh san hô tầm thường mà để tìm những viên ngọc trai lấp lánh những “khối tình con” kết từ máu huyết của loài trai nhẫn nại, cần cù (một ý của Nguyễn Tuân trong tác phẩm “Người lái đò sông Đà”). Nhà thơ chỉ cần rung động trước lớp sóng của cuộc đời thôi ư? Chưa đủ, như thế anh chỉ có cái tâm mà chưa có cái tài để xứng đáng mang danh hiệu “thi sĩ”.

            Để viết nên những vần thơ có sức lay động thực sự, có khả năng vượt qua mọi định luật băng hoại của thời gian không thừa nhận cái chết (Sa tư khốp Sê đrin), nhà thơ phải vừa có tài năng và tâm huyết, vừa đắm mình vào cuộc đời, vừa không ngừng tìm tòi khám phá, “khơi những nguồn chưa ai khơi”. Một nhà thơ nước ngoài đã từng thấm thía giá trị cao quý của lao động thi ca:

“Phí tổn ngàn cân quặng chữ

Để thu về một chữ mà thôi

Những chữ ấy làm cho rung động

Triệu trái tim trong hàng triệu năm dài”.

            Nhà thơ phải “trả giá cắt cổ” cho ngôn ngữ thơ ca nếu muốn những vần thơ ấy trở nên bất tử. Lao động nghệ thuật là hình thức lao động của trí óc và trái tim. Phải có những rung động mãnh liệt trước cuộc đời và những khám phá, sáng tạo độc đáo ta mới có thơ ca chân chính.

            Viết về mùa thu, thi sĩ từ cổ chí kim đã dùng bao hình ảnh tuyệt đẹp, từ “Ngô đồng nhất diệp lạc” đến “cúc vàng lưng giậu” từ “non phơi bóng vàng” đến “trăng sáng như gương” … Thế mà cậu bé Trần Đăng Khoa lại cảm nhận mùa thu theo một cách riêng qua hình ảnh hoa cau giản dị:

“Nửa đêm nghe ếch học bài

Lưa thưa vài hạt mưa ngoài hàng cây

Nghe trời trở gió heo may

Sáng ra vại nước rụng đầy hoa cau”

                                  (Hoa cau)

            Những cánh hoa cau trắng muốt mỏng manh tụng đầy vại nước làng quê phải chăng là “hoa cau cuộc đời” hóa thành “hoa cau nghệ thuật” trong thế giới thơ phong phú đầy tưởng tượng bay bổng của nhà thơ tí hon dễ yêu, dễ mến? Hoa cau thoang thoảng thơm mãi con đường thi ca trải rộng, quấn quýt êm đềm trong trái tim những người yêu thơ…

            “Thơ trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật”. Ý kiến của Bêlinxki thật xúc động và đầy giá trị! Đến với thơ nghĩa là ta đến với cuộc đời qua lăng kính nghệ thuật của nhà thơ. Thơ ca khơi dậy trong lòng ta lớp lớp những đợt sóng cuộn trào và muôn vàn cung bậc tình cảm: yêu thương, căm giận, xót xa, nghẹn ngào, xao xuyến, bâng khuâng, …bởi thơ là đời, thơ là hoa nảy nở từ mảnh đất cuộc đời dào dạt nhựa sống. Thơ không phải là thứ tôn giáo cao siêu huyền bí cũng không phải là những ghi chép tủn mủn, vặt vãnh vô giá trị về cuộc đời, về con người quanh ta. Thi sĩ không thể làm nên thơ nếu cửa lòng đóng khép, nếu không “mở hồn ra đón lấy tất cả những vang động của đời” (Nam Cao). Cuộc sống cuộn xoay không một giây dừng lại, thơ ca cũng không ngừng nảy nở sinh sôi, cống hiến cho đời những đóa hoa đẹp nhất.

            Thi sĩ ơi, anh hãy sáng tác bằng cả nhiệt huyết và tình yêu cháy bỏng của trái tim mình.

Cuộc sống đánh vào thơ trăm ngàn lớp sóng

Chớ ngồi trong phòng ăn bọt bể anh ơi!

                             (Chế Lan Viên)

            Bắt nguồn từ cuộc sống, qua lăng kính cảm nhận của thi nhân, thơ ca lại trở về với đời, tạo dòng chảy trong trái tim người thưởng thức. Thơ ca mang đến cho con người những gì? Thơ ca phải chăng chỉ để giết thời gian hoặc làm cho người ta bị mê hoặc? Thơ ca chân chính không phải là một loại hình nghệ thuật mang tính chất giải trí đơn thuần. Song hành cùng người bạn cốt văn chương, thơ ca mở ra những ngả đường hướng triệu triệu con người tới cõi chân-thiện-mĩ. Thơ ca đích thực phải là thơ ca khơi dậy những rung động sâu sắc trong tâm hồn con người, làm phong phú thế giới cảm xúc của con người, khiến con người vươn tới ước mơ sống tốt hơn, đẹp hơn. Nhà thơ Thanh Hải đến phút cuối đời trên giường bệnh vẫn khát khao cống hiến cho đời những giọt xuân trong trẻo:

Ta làm con chim hót

Ta làm một cành hoa

Ta nhập vào hòa ca

Một nốt trầm xao xuyến

                  (Mùa xuân nho nhỏ)

            Làm sao lòng ta không rạo rực trước sức sống mãnh liệt, dạt dào của một nhà thơ yêu đời, yêu người tha thiết đến nhường ấy! Nhà thơ đã vượt qua chính mình để làm một nốt trầm lặng lẽ. Mình có ích giữa muôn vàn âm thanh sôi động của cuộc đời muôn màu, muôn vẻ này chưa?

            Thơ ca khơi dậy trong con người những cảm xúc thẩm mĩ tuyệt đẹp, “thanh lọc” tâm hồn con người, chắp cánh cho con người bay tới những ước mơ, khát vọng. Trên cõi hành trình dài đằng đẵng đầy chông gai của đời người, có những lúc dừng chân ngơi nghỉ, ta không thể không nghĩ về cuộc đời, về những điều tốt đẹp. Bao giờ ta còn đồng cảm với tấm lòng thi nhân, khi ấy thơ ca vẫn còn tồn tại sức sống bất diệt, vĩnh cửu.

            Andecxen không chỉ là bậc thần tiên tạo nên những trang cổ tích làm say mê biết bao thế hệ con người mà còn là nhà thơ chân chính mà “thơ của ông làm no nê trái tim người dân chẳng khác gì triệu triệu những hạt bụi nước li ti làm bão hòa không khí trên đất đai Đan Mạch. Người nói vì thế mà không ở đâu có cầu vồng rộng lớn và rạo rực như ở nơi này” (Pauxtopxki).

            Thơ ca thật kì diệu và đáng quý! Đã là thi sĩ, một khi cầm bút, anh không được phép phân biệt giữa mình và người, mà phải “viết hết mình cho người” (Tố Hữu). Có như thế thơ ca của anh mới sống mãi mãi với cõi đời này.

            Thơ là cuộc đời cho nên thơ không chỉ khơi dậy những cảm xúc êm đềm, dịu dàng, êm ái; không chỉ làm lòng ta quặn đau trước những nỗi “đoạn trường”. Thơ ca đồng thời phải mang chức năng “thức tỉnh lương tri đang ngủ” (Eptusenco), phải khiến con người biết căm giận và biết ước mơ. Có những lúc thơ ca biến thành vũ khí độc đáo giúp con người đấu tranh với cái ác để bảo vệ chính nghĩa và cái đẹp của cuộc đời. Đấy là giây phút Hồ Chí Minh gửi gắm niềm tin mãnh liệt vào những vần thơ mà xích xiềng không khóa nổi:

Ví đâu có cảnh đông tàn

Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân

Nghĩ mình trong bước gian truân

Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng.

            Ngược dòng thời gian, ta còn thấy đó là giây phút Lí Thường Kiệt cất tiếng sang sảng đọc tuyên ngôn Nam quốc sơn hà khẳng định chủ quyền độc lập của non sông. Giá trị của thơ ca mới cao cả đến nhường nào!

            Trở về với hiện tại thơ ca hôm nay, ta bắt gặp những dáng hình thi sĩ trên những ngả đường thơ trải rộng, đang từng bước khám phá, tìm tòi và sáng tạo, đem lại nguồn mới cho thi ca. Phải chăng họ đang đặt chân lên hành trình đến với “Mảnh đất nở hoa dâng tặng người muốn hái”?

            Thi sĩ ơi, dù phải theo ngả nào, có lẽ anh cũng nên tâm niệm: “Thơ trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật”.

            Ý kiến về thơ của nhà phê bình văn học Nga. V.Bêlinxki quả thật đáng để chúng ta suy nghĩ và nghiền ngẫm. Thơ đâu phải là quả bóng bay xa vời vợi nằm ngoài tầm bắt. Thơ ca luôn nồng nàn, ấm áp hơi thở cuộc đời và mang dấu ấn sáng tạo nghệ thuật của người cầm bút. Thơ là dòng sông soi bóng cuộc đời, len vào tâm hồn con người những mạch nguồn cảm xúc dạt dào chảy mãi không thôi. Nhà thơ phải “yêu cuộc đời” và con người.

            Ngày xưa, tôi yêu văn thơ Anđecxen bởi nơi ấy bao giờ cũng rung rinh đóa hồng bạch tỏa hương ngào ngạt bên những nàng công chúa xinh tươi. Nay tôi lại càng say mê những dòng văn đầy nhân ái kia bởi tôi còn cảm nhận được hương vị của cuộc đời, “chất người” ủ kín bên trong.

                                Đinh Thị Mĩ Huỳnh- Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong TP HCM

NGHỊ LUẬN VỀ SỰ VIỆC HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG

Nghị luận về sự việc hiện tượng đời sống

1. Đối tượng nghị luận

Trong đời sống xã hội thường xảy ra vô vàn những sự việc, hiện tượng. Xét về tính chất có những sự việc, hiện tượng lớn như chiến tranh, tình trạng tai nạn giao thông, tình trạng thiên tai, hỏa hoạn, sự xuống cấp về đạo đức, ô nhiễm môi trường, nạn bạo hành trong gia đình, nếp sống văn minh, lối sống thờ ơ vô cảm, đồng cảm, chia sẻ… Nhưng cũng có những lúc sự việc hiện tượng nhỏ, đơn giản như: sự thất hứa, thói đua đòi, đi học muộn, trang phục…Ngay trong từng sự việc, hiện tượng cũng có nhiều tình huống, nhiều cách biểu hiện, diễn biến khác nhau: Chẳng hạn như cùng là sự việc đi học, nhưng có người đi học chuyên cần, có người lại hay bỏ học…Hay cùng sự việc giữ vệ sinh công cộng nhưng người này thực hiện nghiêm túc, có trách nhiệm, người kia thường xuyên vi phạm, lại có người cùng thực hiện nhưng mang tính đối phó.

Đối tượng nghị luận: Là những sự việc, hiện tượng trong cuộc sống có tính chất nhật dụng, được mọi người quan tâm như: môi trường, giao thông, tệ nạn, cách ứng xử của giới trẻ, bạo lực học đường.v.v.

Như vậy, đối tượng nghị luận rất đa dạng: Có thể là hiện tượng tốt hoặc xấu, đáng khen hoặc đáng chê, đáng suy nghĩ.

Để làm tốt kiểu đề này, học sinh cần phải hiểu hiện tượng đời sống đưa ra nghị luận có thể có ý nghĩa tích cực, cũng có thể tiêu cực, có hiện tượng vừa tích cực vừa tiêu cực. Do vậy, cần căn cứ vào yêu cầu cụ thể của đề để gia giảm liều lượng cho hợp lí, tránh làm bài chung chung, không phân biệt được mặt tích cực, tiêu cực.

Ví dụ:

– Đề 1: Suy nghĩ của em về bệnh lười biếng của một số học sinh ngày nay.

– Đề 2: Ý kiến của em về thói ăn chơi đua đòi của lớp trẻ.

– Đề 3: Vượt lên số phận.

– Đề 4: Bệnh nói dối.

Đứng trước những sự việc hiện tượng ấy, con người cần phải bày tỏ thái độ của mình hoặc khen, hoặc chê, hoặc đồng ý, hoặc phản đối, hoặc khâm phục, hoặc tôn trọng, hoặc coi thường, hoặc chế giễu. Điều đó có nghĩa là trong quá trình hòa nhập vào đời sống xã hội, người ta phải rút ra những vấn đề có ý nghĩa tư tưởng trên cơ sở xem xét các sự việc, hiện tượng cụ thể. Từ đó điều chỉnh nhận thức, hành vi của mình và mọi người. Dưới hình thức nào, ở phạm vi mức độ nào, nghị luận về một sự việc, hiện tượng trong đời sống cũng thường bao gồm các khâu:

+ Bộc lộ nhận thức (thông qua mô tả, xem xét sự việc, hiện tượng và các biểu hiện khác nhau).

+ Đánh giá (thông qua ý kiến nhận xét về các mặt đúng-sai, phải-trái, lợi-hại…của sự việc, hiện tượng ấy).

+ Bày tỏ thái độ (khen-chê, đồng tình-phản đối, tiếp thu, khuyên bảo, khâm phục, phê phán…).

+ Hoặc kèm theo những lời lí giải (nêu nguyên nhân, dự báo hệ quả).

2. Dàn ý đoạn văn (bài văn) nghị luận về sự việc, hiện tượng đời sống

a/ Mở đoạn (mở bài): Khái quát vấn đề nghị luận (thường sử dụng một câu).

b/ Thân đoạn (thân bài)

  • Giải thích vấn đề nghị luận (giải thích các từ ngữ khó, các thuật ngữ…).
  • Bàn luận về thực trạng của vấn đề nghị luận (đưa ra các dẫn chứng trong thực tế hoặc trong văn học).
  • Bàn luận về nguyên nhân (nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan) dẫn đến thực trạng của vấn dề.
  • Bàn về hệ quả (hậu quả-vấn đề tiêu cực/kết quả-vấn đề tích cực) của vấn đề nghị luận.
  • Bàn về hướng khắc phục hoặc bài học rút ra cho bản thân và mọi người.

c/ Kết đoạn (kết bài): Nêu ý nghĩa của vấn đề nghị luận đối với cuộc sống.

3. Luyện tập

Đề bài: Nghị luận về tác hại của tệ nạn với cuộc sống của con người.

a/ Mở bài:

  • Dẫn dắt vấn đề: Xã hội đang phát triển từng ngày kéo theo nhiều vấn nạn gia tăng.
  • Nêu vấn đề nghị luận: Tệ nạn xã hội để lại những tác hại to lớn đối với sự phát triển nhân cách con người và xã hội.

b/ Thân bài:

Giải thích hiện tượng

  • Tệ nạn xã hội là hiện tượng phổ biến, là những hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội, vi phạm đạo đức, băng hoại nhân cách, ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội, cản trở sự phát triển lành mạnh của đất nước.
  • Các tệ nạn xã hội như: cờ bạc, rượu chè, hút thuốc lá, ma túy, mê tín dị đoan…

Thực trạng tệ nạn xã hội hiện nay

  • Bên cạnh sự phát triển từng ngày của đất nước thì các tệ nạn cũng đang lan rộng và phức tạp hơn.
  • Các tệ nạn xã hội phổ biến ảnh hưởng sâu sắc đến mọi mặt đời sống.

Tác hại

  • Tệ nạn xã hội ảnh hưởng đến sức khỏe, về mặt tinh thần, thể xác thậm chí là cả tính mạng.
  • Làm cho xã hội trở nên không lành mạnh.
  • Làm cho đất nước kém phát triển, xã hội không còn tốt đẹp văn minh.
  • Gia đình tan nát: vợ chồng li dị, cha mẹ mất con cái…gây nên những cảnh đau thương.
  • Làm cho con người lương thiện trở nên mất nhân tính, bất chấp mọi thứ.
  • Gây nên nhiều vụ giết người, cướp của ảnh hưởng xấu đến an ninh đất nước.

Nguyên nhân

  • Nguyên nhân hàng đầu là do bản thân mỗi người không có ý thức, không làm chủ được bản thân trước những cám dỗ của tệ nạn xã hội.
  • Bản thân mỗi người lười lao động, học đòi, bắt chước…
  • Do gia đình, nhà trường quản lí con em chưa chặt chẽ, không có thời gian quan tâm con cái.

Giải pháp và liên hệ bản thân

  • Bản thân mỗi người cần tự ý thức, làm chủ bản thân tránh xa các tệ nạn xã hội.
  • Gia đình, nhà trường, xã hội cần có các biện pháp giáo dục quản lí con em để không sa vào tệ nạn xã hội.
  • Liên hệ bản thân: Mỗi chúng ta, nhất là lứa tuổi học sinh tâm sinh lí đang thay đổi, cần giữ mình không để bản thân sa vào các tệ nạn xã hội.

c/ Kết bài

  • Khẳng định lại vấn đề: Tệ nạn xã hội luôn là mối lo ngại hàng đầu của đất nước, đó là mối nguy hại không chỉ trước mắt mà còn là lâu dài cần tháo gỡ.
  • Lời nhắn đến mọi người: Nếu mỗi người sống một cách văn mình thì chắc chắn tệ nạn sẽ được đẩy lùi.

CÁCH VIẾT ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

1. Kiến thức cơ bản

Đoạn văn là đơn vị trực tiếp cấu tạo thành văn bản, diễn đạt một nội dung nhất định. Hình thức được mở đầu bằng việc lùi đầu dòng, kết thúc chấm và ngắt đoạn. Nội dung của đoạn văn phù hợp, hoàn chỉnh trọn vẹn ý. Những thành phần, đơn vị khác trong đoạn văn không phải lúc nào cũng có sự hoàn chỉnh về nội dung.

Câu chủ đề: là câu bao chứa trọn vẹn nội dung chính của đoạn văn, câu có hình thức ngắn gọn, đầy đủ thành phần chính, có thể đứng ở đầu hoặc cuối câu.

Từ ngữ chủ đề: là các từ ngữ được dùng làm đề mục hoặc các từ ngữ được lặp đi lặp lại nhiều lần nhằm duy trì đối tượng biểu đạt.

Các kiểu đoạn văn thường sử dụng trong văn bản:

+Đoạn văn diễn dịch,

+ Đoạn văn quy nạp,

+ Đoạn văn song hành,

+ Đoạn văn móc xích,

+ Đoạn văn tổng phân hợp,

+ Đoạn văn nêu phản đề,

+ Đoạn văn so sánh,

+ Đoạn văn phân tích nhân quả,

+ Đoạn văn vấn đáp.

2. Cấu trúc chung khi viết đoạn văn nghị luận xã hội

  • Bước 1: Xây dựng câu mở đoạn

Câu mở đoạn: thường chỉ được dùng một câu (câu tổng hợp-chứa đựng thông tin của đề thi yêu cầu. Câu này mang tính khái quát cao).

  • Bước 2: Xây dựng thân đoạn

* Giải thích các cụm từ khóa, giải thích các thuật ngữ (giải thích nghĩa đen, nghĩa bóng, cần ngắn gọn, đơn giản).

* Bàn luận:

+ Đặt ra các câu hỏi và trả lời:

Vì sao?

Biểu hiện như thế nào?

Ý nghĩa của vấn đề đó đối với cuộc sống và con người?

Tác động hoặc tác hại của vấn đề nghị luận đối với cuộc sống và con người?

+ Sau đó bình luận, chứng minh từng ý lớn (có thể chọn theo các mô típ viết từ: gia đình, nhà trường, xã hội hoặc trong học tập, lao động, sinh hoạt hằng ngày…).

+ Đưa ra dẫn chứng phù hợp, ngắn gọn, chính xác (tuyệt đối không kể chuyện dông dài, tán gẫu, sáo rỗng, có thể đưa dẫn chứng thực tế, dẫn chứng văn học).

+ Trong quá trình phân tích dẫn chứng có thể lồng cảm nghĩ, đánh giá liên hệ.

* Bàn luận mở rộng: bàn luận phản đề hoặc mở rộng vấn đề- đồng tình hoặc không đồng tình.

* Bài học nhận thức và hành động cho bản thân, mọi người.

– Bước 3: Viết kết đoạn

Khái quát lại giá trị của vấn đề nghị luận, rút ra bài học.

3. Luyện tập

Đề bài: Bàn về vai trò và tác dụng to lớn của sách trong đời sống tinh thần của con người, nhà văn M. Go-rơ-ki có viết: “Sách mở rộng trước mắt tôi những chân trời mới”. Hãy giải thích và bình luận ý kiến trên.

a/ Xác định luận đề

Bài văn cần làm sáng tỏ vấn đề gì? Quan điểm của chúng ta về vấn đề đó như thế nào?

b/ Xác định các luận điểm

Căn cứ vào đề bài, vào yêu cầu của bài văn và huy động những hiểu biết của mình, anh (chị) hãy suy nghĩ và trả lời các câu hỏi sau đây:

  • Sách là gì?
  • Sách có tác dụng như thế nào?
  • Thái độ đối với sách và việc đọc sách như thế nào?

c/ Tìm luận cứ cho các luận điểm

Hãy lần lượt trả lời các câu hỏi sau đây:

  • Đối với luận điểm 1 (Sách là sản phẩm tinh thần kì diệu của con người):

+ Sách là sản phẩm thuộc lĩnh vực nào của con người?

+ Sách phản ánh, lưu giữ những thành tựu gì của nhân loại?

+ Sách có chịu ảnh hưởng của thời gian và không gian không?

  • Đối với luận điểm 2 (Sách mở rộng những chân trời mới):

+ Sách đem lại cho con người những hiểu biết gì về tự nhiên và xã hội?

+ Sách có tác dụng như thế nào đối với cuộc sống riêng tư và quá trình tự hoàn thiện mình?

  • Đối với luận điểm 3: (Cần có thái độ đúng đối với sách và việc đọc sách):

+ Thái độ của anh chị đối với các loại sách?

+ Đọc sách như thế nào là tốt nhất?