THƠ TRƯỚC HẾT LÀ CUỘC ĐỜI, SAU ĐÓ MỚI LÀ NGHỆ THUẬT

Tran thi si cham may nhung trong ruot tho van chay len ngon lua doi rat am

(Bài làm của học sinh Đinh Thị Mĩ Huỳnh- Chuyên Lê Hồng Phong- TP Hồ Chí Minh).

            Những vần thơ Anđécxen, những vần thơ ngân vang từ thung lũng Oodenzơ, nơi có những hẻm núi sương giăng mờ ảo và những vòm hoa thạch thảo tim tím nên thơ đã gieo vào tâm hồn nhà văn Pauxtoopsxki niềm xúc cảm mãnh liệt: “Anđécxen đã lượm lặt hạt thơ trên luống đất của người dân cày, ấp ủ chúng nơi trái tim ông rồi gieo vào những túp lều, từ đó lớn lên và nảy nở những bó hoa thơ tuyệt đẹp, chúng an ủi trái tim những người cùng khổ”. Thơ ca, hai chữ kì diệu mà muôn đời vẫn chưa tìm ra một định nghĩa trọn vẹn, hoàn chỉnh. Thơ là gì? Thơ bắt nguồn từ đâu? Thơ có mãnh lực gì khiến cung đàn cảm xúc của triệu triệu con người trên trái đất này không ngừng lay động thổn thức xuyến xao? Phải chăng “thơ” ở đây như trong lời bình của nhà văn học Nga V.Bêlinxki vào thế kỉ mười chín: “Thơ trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật”.

            Từ thủa thơ ca xuất hiện mang đến hơi thở ấm áp cho hành tinh xanh xanh những đại dương và điệp trùng những cánh rừng tươi thắm của chúng ta, có thể nói chưa bao giờ tổng kết được những định nghĩa về thơ. Có người cho thơ là “lơ tơ mơ”, “thơ là sự tuôn trào bột phát những tình cảm mãnh liệt”, thậm chí “thơ là một cái gì mà người ta không định nghĩa được”. Phải chăng vì thế mà thơ thuộc về cõi huyền nhiệm, mông lung, xa vời vợi? Không, theo quan niệm của Bêlinxki, chữ “cuộc đời” như một vì sao được chiếc đòn bẩy “trước hết” bật vào từ thơ, làm sáng lên một ánh lung linh, rạng rỡ. Thơ ca bắt nguồn từ cuộc sống.

            Cuộc sống bao giờ cũng là nguồn cảm hứng mênh mông bất tận của những tâm hồn nghệ sĩ. Thơ ca cũng như văn chương và các loại hình nghệ thuật khác, nếu không bám rễ vào cuộc đời, nếu không hút nguồn nhựa sống dạt dào ngầm chảy trong lòng cuộc sống thì nó sẽ mãi mãi là một cây non èo uột, không mang trên mình những cành cây săn chắc, những phiến lá xanh tươi phơi phới dưới ánh nắng mặt trời. Là nhà thơ, ngòi bút của anh phải chấm vào nghiên mực cuộc đời thì thơ anh mới tươi màu neo chặt trong bến tâm hồn người thưởng thức. Anh sĩ Lê Quý Đôn từng nói: “Trong bụng không có ba vạn quyển sách, trong mắt không có cảnh núi non kì lạ của thiên hạ thì không thể làm thơ được”. Có thể nói cuộc đời là mạch sữa ngọt ngào tuôn chảy không ngừng từ thế hệ này sang thế hệ khác để nuôi dưỡng thi ca. Đến với Chế Lan Viên, một “triết gia thi sĩ”, ta không quên giây phút con người ấy rơi vào hố sâu tuyệt vọng của sự chán chường:

“Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh

Một vì sao trơ trọi giữa trời xa

Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh

Những ưu phiền, đau khổ với buồn lo”.

            Thế mà cuộc sống mới chan hòa hơi thở nồng ấm của cách mạng đã làm tan mọi băng giá trong trái tim thi sĩ. Người sà vào lòng nhân dân, sung sướng đón nhận nguồn cảm hứng thi ca từ cuộc đời:

“Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ

Cỏ đón giêng hai chim én gặp mùa

Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa

Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa”

                     (Tiếng hát con tàu-Chế Lan Viên)

            Cuộc sống mênh mông và kì diệu làm sao! Cuộc sống là nơi cung cấp chất liệu cho thơ. Thơ ca bắt nguồn từ cuộc sống, cho nên thơ bao giờ cũng chứa đựng bóng hình cuộc sống, bóng hình con người. Thơ ca là nơi con người gửi gắm tâm tình, ước mơ, khát vọng, những băn khoăn, rạo rực, ưu tư. Thơ ca không thể tách rời cuộc đời. Cuộc đời ban truyền nguồn nhựa sống mãnh liệt cho thơ và thơ nở hoa làm đẹp cuộc đời, cống hiến cho con người những phút giây tuyệt vời lắng đọng nhiều nỗi suy tư. Đến với thơ, người đọc trước hết sẽ bắt gặp tâm tư, nỗi lòng của người cầm bút, sau đó sẽ gặp chính tâm tư của mình bởi thơ là “tiếng nói đồng ý, đồng tình, đồng chí”. Cùng với văn chương, thơ ca trở nên những nhịp cầu vô hình dẫn dắt những tâm hồn đến với tâm hồn đến với trái tim để con người cùng sẻ niềm vui, nỗi buồn, ước mơ, hy vọng.

            Cuộc đời vốn bao la, vô tận kia như một bức tranh với ba chiều không gian trải dài đến vô cùng. Nhà thơ cũng như những con ong cần mẫn bay lượn trong khu vườn cuộc đời ấy:

“Nhà thơ như con ong biến trăm hoa thành một mật

Một mật ngọt thành, đời vạn chuyến ong bay”

                                    (Chế Lan Viên)

            Thơ ca “là cuộc đời”, nhưng thơ ca không phải là những trang giấy in nguyên vẹn bóng hình của cuộc đời rộng lớn. Người nghệ sĩ phải tìm đến cuộc đời để hút lấy chất mật tinh túy nhất, ngọt ngào nhất để tạo nên những vần thơ thật sự có giá trị. Nhà thơ phải biết chắt lọc chất liệu mà cuộc đời cung cấp, từ đó mới tạo nên những vần thơ hay, làm rung động lòng người đọc. Thi ca gắn liền với cảm xúc. Nhà thơ không thể hiện cuộc đời qua những tình huống, qua những sự kiện như các nhà văn. Nhà thơ giãi bày bằng cảm xúc, bằng ngôn ngữ thi ca, bằng cả “khoảng trắng giữa các ngôn từ”. Thơ ca có giá trị không tách rời sự thoát li, tách rời khỏi cuộc sống, cũng như sự photocoppy cuộc sống một cách cứng nhắc, khuôn mẫu. Đọc thơ mà chẳng tìm thấy nỗi lòng nhà thơ, đấy chẳng phải là thơ ca đích thực! Nếu không có một thiên tài Nguyễn Du uyên bác, ta không thể có “Truyện Kiều”. Nhưng nếu không có những lầm than cơ cực, đắng cay, tủi nhục cùng với những ước mơ cháy bỏng của nhân dân trong xã hội phong kiến, trong buổi suy vong đầy ngột ngạt, ta cũng không thể có những trang Kiều thấm đượm dòng lệ đầy chất nhân bản sâu xa.

            Nếu không có một vùng quê Kinh Bắc êm ả, bình dị với những con người chăm chỉ, hiền hòa, mãi mãi ta không thể nào có được nỗi nhớ rạo rực thiết tha của thi sĩ Hoàng Cầm trong bài “Bên kia sông Đuống”:

Em ơi buồn làm chi

Anh đưa em về bên kia sống Đuống

Ngày xưa cát trắng phẳng lì

…Xanh xanh bãi mía bờ dâu

Ngô khoai biêng biếc

Đứng bên này sông sao nuối tiếc

Sao xót xa như rụng bàn tay”.

            Thơ bao giờ cũng in đậm chữ “đời” trước hết. Cuộc đời không chỉ ban cho nhà thơ nguồn cảm hứng mà cuộc đời còn là nơi khai thác “chất quặng” nguồn từ để tạo nên thơ:

“Vạt áo của nhà thơ không bọc hết bạc vàng mà cuộc đời rơi vãi

Hãy nhặt lấy chữ của đời mà góp nên trang”

(Chế Lan Viên)

            Thơ ca là hoa thơm của cuộc đời. Nếu chỉ được kiến tạo từ trí tưởng tượng và “cái tôi” nhỏ bé của người nghệ sĩ, thơ ca chỉ là những bông hoa làm bằng “vỏ bào” (Pauxtopki). Nhà thơ phải nhặt những hạt “bụi quý” trong cuộc đời mênh mông vô tận để làm nên những “bông hồng vàng” quý giá, đem lại niềm vui và cái đẹp cho tâm hồn người đọc thơ, hiểu thơ và yêu thơ, theo cách diễn đạt của Pauxtôpxki.

            Trở lại câu nói của nhà phê bình Bêlinxki, ta thấy đó không phải là cái nhìn phiến diện. “Thơ trước hết là cuộc đời” nhưng cuộc đời chưa phải là tất cả. BêlBeelki rời phím nhấn “cuộc đời” ấn tay vào phím cạnh bên “nghệ thuật”. Như vậy BêlBeelki đã không phủ nhậ vai trò quan trọng của yếu tố làm nên thi ca này. Thiếu nghệ thuật, thơ chỉ còn là hòn ngọc thô không mài không giũa, không thể khơi dậy trong trái tim con người những rung động sâu xa. Thơ có thể ví như cánh diều bay bổng trên bầu trời cao rộng, nâng cảm xúc đến mức thăng hoa. Ta yêu “Truyện Kiều” đâu phải chỉ vì “đoạn trường tân thanh” xé ruột cất lên từ quãng đời mười lăm năm lưu lạc truân chuyên của cánh hoa Thúy Kiều tài sắc. Người Việt Nam yêu “Truyện Kiều” vì những “ngôn ngữ gấm hoa” giàu sức biểu cảm, vì âm hưởng ca dao dịu dàng, man mác trong lục bát thân thương:

“Long lay đáy nước in trời

Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng”

            Cảnh mùa thu long lanh, mĩ lệ đọng đầy chất thơ ấy có lẽ còn sống mãi trong lòng người dân đất Việt đến nhiều thế kỉ mai sau.

            Thơ cất lên từ biển cuộc đời và bay cao từ nguồn gió nghệ thuật. Nghệ thuật làm cho thơ trở nên đẹp đẽ, gieo vào dòng người đọc những cảm xúc thẩm mĩ tuyệt vời. Một nhà thơ tài năng phải là một người thợ lặn lành nghề lặn sâu vào đại dương cuộc sống, không phải để nhặt nhạnh mảnh san hô tầm thường mà để tìm những viên ngọc trai lấp lánh những “khối tình con” kết từ máu huyết của loài trai nhẫn nại, cần cù (một ý của Nguyễn Tuân trong tác phẩm “Người lái đò sông Đà”). Nhà thơ chỉ cần rung động trước lớp sóng của cuộc đời thôi ư? Chưa đủ, như thế anh chỉ có cái tâm mà chưa có cái tài để xứng đáng mang danh hiệu “thi sĩ”.

            Để viết nên những vần thơ có sức lay động thực sự, có khả năng vượt qua mọi định luật băng hoại của thời gian không thừa nhận cái chết (Sa tư khốp Sê đrin), nhà thơ phải vừa có tài năng và tâm huyết, vừa đắm mình vào cuộc đời, vừa không ngừng tìm tòi khám phá, “khơi những nguồn chưa ai khơi”. Một nhà thơ nước ngoài đã từng thấm thía giá trị cao quý của lao động thi ca:

“Phí tổn ngàn cân quặng chữ

Để thu về một chữ mà thôi

Những chữ ấy làm cho rung động

Triệu trái tim trong hàng triệu năm dài”.

            Nhà thơ phải “trả giá cắt cổ” cho ngôn ngữ thơ ca nếu muốn những vần thơ ấy trở nên bất tử. Lao động nghệ thuật là hình thức lao động của trí óc và trái tim. Phải có những rung động mãnh liệt trước cuộc đời và những khám phá, sáng tạo độc đáo ta mới có thơ ca chân chính.

            Viết về mùa thu, thi sĩ từ cổ chí kim đã dùng bao hình ảnh tuyệt đẹp, từ “Ngô đồng nhất diệp lạc” đến “cúc vàng lưng giậu” từ “non phơi bóng vàng” đến “trăng sáng như gương” … Thế mà cậu bé Trần Đăng Khoa lại cảm nhận mùa thu theo một cách riêng qua hình ảnh hoa cau giản dị:

“Nửa đêm nghe ếch học bài

Lưa thưa vài hạt mưa ngoài hàng cây

Nghe trời trở gió heo may

Sáng ra vại nước rụng đầy hoa cau”

                                  (Hoa cau)

            Những cánh hoa cau trắng muốt mỏng manh tụng đầy vại nước làng quê phải chăng là “hoa cau cuộc đời” hóa thành “hoa cau nghệ thuật” trong thế giới thơ phong phú đầy tưởng tượng bay bổng của nhà thơ tí hon dễ yêu, dễ mến? Hoa cau thoang thoảng thơm mãi con đường thi ca trải rộng, quấn quýt êm đềm trong trái tim những người yêu thơ…

            “Thơ trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật”. Ý kiến của Bêlinxki thật xúc động và đầy giá trị! Đến với thơ nghĩa là ta đến với cuộc đời qua lăng kính nghệ thuật của nhà thơ. Thơ ca khơi dậy trong lòng ta lớp lớp những đợt sóng cuộn trào và muôn vàn cung bậc tình cảm: yêu thương, căm giận, xót xa, nghẹn ngào, xao xuyến, bâng khuâng, …bởi thơ là đời, thơ là hoa nảy nở từ mảnh đất cuộc đời dào dạt nhựa sống. Thơ không phải là thứ tôn giáo cao siêu huyền bí cũng không phải là những ghi chép tủn mủn, vặt vãnh vô giá trị về cuộc đời, về con người quanh ta. Thi sĩ không thể làm nên thơ nếu cửa lòng đóng khép, nếu không “mở hồn ra đón lấy tất cả những vang động của đời” (Nam Cao). Cuộc sống cuộn xoay không một giây dừng lại, thơ ca cũng không ngừng nảy nở sinh sôi, cống hiến cho đời những đóa hoa đẹp nhất.

            Thi sĩ ơi, anh hãy sáng tác bằng cả nhiệt huyết và tình yêu cháy bỏng của trái tim mình.

Cuộc sống đánh vào thơ trăm ngàn lớp sóng

Chớ ngồi trong phòng ăn bọt bể anh ơi!

                             (Chế Lan Viên)

            Bắt nguồn từ cuộc sống, qua lăng kính cảm nhận của thi nhân, thơ ca lại trở về với đời, tạo dòng chảy trong trái tim người thưởng thức. Thơ ca mang đến cho con người những gì? Thơ ca phải chăng chỉ để giết thời gian hoặc làm cho người ta bị mê hoặc? Thơ ca chân chính không phải là một loại hình nghệ thuật mang tính chất giải trí đơn thuần. Song hành cùng người bạn cốt văn chương, thơ ca mở ra những ngả đường hướng triệu triệu con người tới cõi chân-thiện-mĩ. Thơ ca đích thực phải là thơ ca khơi dậy những rung động sâu sắc trong tâm hồn con người, làm phong phú thế giới cảm xúc của con người, khiến con người vươn tới ước mơ sống tốt hơn, đẹp hơn. Nhà thơ Thanh Hải đến phút cuối đời trên giường bệnh vẫn khát khao cống hiến cho đời những giọt xuân trong trẻo:

Ta làm con chim hót

Ta làm một cành hoa

Ta nhập vào hòa ca

Một nốt trầm xao xuyến

                  (Mùa xuân nho nhỏ)

            Làm sao lòng ta không rạo rực trước sức sống mãnh liệt, dạt dào của một nhà thơ yêu đời, yêu người tha thiết đến nhường ấy! Nhà thơ đã vượt qua chính mình để làm một nốt trầm lặng lẽ. Mình có ích giữa muôn vàn âm thanh sôi động của cuộc đời muôn màu, muôn vẻ này chưa?

            Thơ ca khơi dậy trong con người những cảm xúc thẩm mĩ tuyệt đẹp, “thanh lọc” tâm hồn con người, chắp cánh cho con người bay tới những ước mơ, khát vọng. Trên cõi hành trình dài đằng đẵng đầy chông gai của đời người, có những lúc dừng chân ngơi nghỉ, ta không thể không nghĩ về cuộc đời, về những điều tốt đẹp. Bao giờ ta còn đồng cảm với tấm lòng thi nhân, khi ấy thơ ca vẫn còn tồn tại sức sống bất diệt, vĩnh cửu.

            Andecxen không chỉ là bậc thần tiên tạo nên những trang cổ tích làm say mê biết bao thế hệ con người mà còn là nhà thơ chân chính mà “thơ của ông làm no nê trái tim người dân chẳng khác gì triệu triệu những hạt bụi nước li ti làm bão hòa không khí trên đất đai Đan Mạch. Người nói vì thế mà không ở đâu có cầu vồng rộng lớn và rạo rực như ở nơi này” (Pauxtopxki).

            Thơ ca thật kì diệu và đáng quý! Đã là thi sĩ, một khi cầm bút, anh không được phép phân biệt giữa mình và người, mà phải “viết hết mình cho người” (Tố Hữu). Có như thế thơ ca của anh mới sống mãi mãi với cõi đời này.

            Thơ là cuộc đời cho nên thơ không chỉ khơi dậy những cảm xúc êm đềm, dịu dàng, êm ái; không chỉ làm lòng ta quặn đau trước những nỗi “đoạn trường”. Thơ ca đồng thời phải mang chức năng “thức tỉnh lương tri đang ngủ” (Eptusenco), phải khiến con người biết căm giận và biết ước mơ. Có những lúc thơ ca biến thành vũ khí độc đáo giúp con người đấu tranh với cái ác để bảo vệ chính nghĩa và cái đẹp của cuộc đời. Đấy là giây phút Hồ Chí Minh gửi gắm niềm tin mãnh liệt vào những vần thơ mà xích xiềng không khóa nổi:

Ví đâu có cảnh đông tàn

Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân

Nghĩ mình trong bước gian truân

Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng.

            Ngược dòng thời gian, ta còn thấy đó là giây phút Lí Thường Kiệt cất tiếng sang sảng đọc tuyên ngôn Nam quốc sơn hà khẳng định chủ quyền độc lập của non sông. Giá trị của thơ ca mới cao cả đến nhường nào!

            Trở về với hiện tại thơ ca hôm nay, ta bắt gặp những dáng hình thi sĩ trên những ngả đường thơ trải rộng, đang từng bước khám phá, tìm tòi và sáng tạo, đem lại nguồn mới cho thi ca. Phải chăng họ đang đặt chân lên hành trình đến với “Mảnh đất nở hoa dâng tặng người muốn hái”?

            Thi sĩ ơi, dù phải theo ngả nào, có lẽ anh cũng nên tâm niệm: “Thơ trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật”.

            Ý kiến về thơ của nhà phê bình văn học Nga. V.Bêlinxki quả thật đáng để chúng ta suy nghĩ và nghiền ngẫm. Thơ đâu phải là quả bóng bay xa vời vợi nằm ngoài tầm bắt. Thơ ca luôn nồng nàn, ấm áp hơi thở cuộc đời và mang dấu ấn sáng tạo nghệ thuật của người cầm bút. Thơ là dòng sông soi bóng cuộc đời, len vào tâm hồn con người những mạch nguồn cảm xúc dạt dào chảy mãi không thôi. Nhà thơ phải “yêu cuộc đời” và con người.

            Ngày xưa, tôi yêu văn thơ Anđecxen bởi nơi ấy bao giờ cũng rung rinh đóa hồng bạch tỏa hương ngào ngạt bên những nàng công chúa xinh tươi. Nay tôi lại càng say mê những dòng văn đầy nhân ái kia bởi tôi còn cảm nhận được hương vị của cuộc đời, “chất người” ủ kín bên trong.

                                Đinh Thị Mĩ Huỳnh- Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong TP HCM

KẾ HOẠCH BÀI DẠY MINH HỌA PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT NĂNG LỰC THEO MODULE 2

Tran thi si cham may nhung trong ruot tho van chay len ngon lua doi rat am

VĂN BẢN CHIẾC LÁ CUỐI CÙNG (O HEN RI)-NGỮ VĂN 8

                                                           

I. Yêu cầu cần đạt

1. Năng lực

a. Năng lực đặc thù: Năng lực văn học

(1)Hiểu được những tri thức cơ bản về tác giả, tác phẩm, về văn bản; nhận biết được các chi tiết tiêu biểu, tình huống truyện, nhân vật trong tính chỉnh thể tác phẩm.

(2) Tóm tắt được văn bản một cách ngắn gọn.

(3) Nhận biết được một số yếu tố của văn bản truyện dịch: tình huống truyện, chi tiết, nhân vật. Nhận biết được chủ đề của văn bản.

(4) Nhận biết và phân tích được đặc điểm nhân vật thể hiện qua cử chỉ, hành động, ngôn ngữ, đặc biệt là diễn biến nội tâm nhân vật.  

(5) Nêu được ý kiến của bản thân về bài học rút ra sau khi học văn bản.

(6)  Đọc mở rộng 1-3 truyện dịch với dung lượng tương đương với văn bản học chính thức.

b. Năng lực chung

(7) Tự chủ và tự học: Nhận ra và điều chỉnh được những sai sót, hạn chế của bản thân khi được giáo viên góp ý.

(8) Giao tiếp và hợp tác

(9) Giải quyết vấn đề

(10) Năng lực thẩm mĩ

2. Phẩm chất chủ yếu

(9) Nhân ái: Lòng yêu thương con người, yêu cái thiện, khoan dung vị tha.

(10) Trách nhiệm: Sống có trách nhiệm với bản thân, với bạn bè và những người xung quanh.

II. Thiết bị dạy học và học liệu

1. Thiết bị dạy học

Máy chiếu, bảng, phấn, giấy A0, giấy A4, bút dạ.

2. Học liệu

Ngữ liệu đọc, video Chiếc lá cuối cùng (Quà tặng cuộc sống), hình ảnh về chiếc lá cuối cùng, phiếu học tập.

III. Tiến trình dạy học

A. Tiến trình dạy học

Hoạt động học (Thời gian)Mục tiêu (Số thứ tự YCCĐ)Nội dung dạy học trọng tâmPP/KTDH chủ đạoPhương án đánh giá
Hoạt động 1 Khởi động (5p)Kích thích hứng thú học tập của học sinh, hứng thú tìm hiểu, tạo tâm thế học tập cho học sinh; nêu được ấn tượng chung về văn bản.– T/C chơi trò chơi: Nhìn hình đoán chữ để giới thiệu bài học. (GV cho hs quan sát bức ảnh:  chiếc lá, bức tranh, cửa sổ, mùa xuân).  – PP trực quan, đàm thoại, gợi mở. – KT KWL.GV trực tiếp đánh giá.
Hoạt động 2 Hình thành kiến thức lí thuyết 45p(1) Hiểu được những tri thức cơ bản về   tác giả, tác phẩm. (2)Tóm tắt văn bản. (3) Nhận biết được một số yếu tố của văn bản truyện dịch: chi tiết, nhân vật. (1) Nêu ấn tượng chung về văn bản; nhận biết được các chi tiết tiêu biểu trong truyện. (3) Nhận biết được một số yếu tố của truyện: tình huống, chi tiết, nhân vật. (4) Nhận biết và phân tích được về nhân vật qua hành động, ngôn ngữ đối thoại của nhân vật. (3) Nhận biết được chủ đề của tác phẩm: nghệ thuật chân chính hướng tới con người, vì con người.1.Tìm hiểu về tác giả, tác phẩm. 2. Tìm hiểu về các nhân vật. 3. Tìm hiểu về chủ đề.  Dạy học hợp tác. Đàm thoại gợi mở.Gv sử dụng phiếu học tập để đánh giá học sinh.
Hoạt động 3 Luyện tập 20p(3) Nhận biết được một số yếu tố của truyện: tình huống, chi tiết, nhân vật.  (3) Nhận biết được chủ đề của tác phẩm: nghệ thuật chân chính hướng tới con người, vì con người. (7) Nhận ra và điều chỉnh được những sai sót, hạn chế của bản thân khi được giáo viên góp ý.Khái quát những vấn đề trọng tâm của tác phẩm.Dạy học hợp tác. Kĩ thuật Sơ đồ tư duy. Kĩ thuật Phòng tranh.Hs tự đánh giá sơ đồ tư duy dưới sự hướng dẫn của Gv.
Hoạt động 4 Vận dụng (15p)(5) Nêu được bài học về cách nghĩ và cách ứng xử của cá nhân do văn bản đã đọc gợi ra.  Liên hệ với thực tế đời sống để làm rõ hơn bức thông điệp mà nhà văn muốn gửi gắm qua tác phẩm.PP DH giải quyết vấn đề.Phiếu học tập.
Hoạt động 5 Mở rộng (10p)(6)  Đọc mở rộng 1-3 truyện dịch với dung lượng tương đương với văn bản học chính thức.Liên hệ mở rộng với các tác phẩm khác để củng cố, hệ thống kiến thức trong chương trình.Trò chơi.Đánh giá trực tiếp phiếu học tập của Hs.

B. CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC

Hoạt động 1: Khởi động (5p)

1. Mục tiêu

Hoạt động học (Thời gian)Mục tiêu (Số thứ tự YCCĐ)Nội dung dạy học trọng tâmPP/KTDH chủ đạoPhương án đánh giá
Hoạt động 1 Khởi động (5p)Kích thích hứng thú học tập của học sinh, hứng thú tìm hiểu, tạo tâm thế học tập cho học sinh; nêu được ấn tượng chung về văn bản.– T/C chơi trò chơi: Nhìn hình đoán chữ để giới thiệu bài học. (GV cho hs quan sát bức ảnh:  chiếc lá, bức tranh, cửa sổ, mùa xuân).  – PP trực quan, đàm thoại, gợi mở. – KT KWL. 

2. Tổ chức hoạt động

 Chuyển giao nhiệm vụ học tập:

+ T/C chơi trò chơi: Nhìn hình đoán chữ (GV cho hs quan sát bức ảnh:  chiếc lá, bức tranh, cửa sổ, mùa xuân) – Hs đoán chữ.

Thực hiện nhiệm vụ học tập:

 + HS thảo luận theo nhóm bàn trả lời câu hỏi: Các bức ảnh trên liên quan đến nội dung văn bản nào?

+ GV nhắc nhở các nhóm chuẩn bị cử đại diện lên thực hiện hoạt động Khởi động.

 Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập:

+ GV gọi đại diện nhóm trình bày.

+ GV tổ chức cho các nhóm nhận xét lẫn nhau và tự nhận xét.

+GV nhận xét, chốt, dẫn dắt vào bài mới: VB “Chiếc lá cuối cùng”Văn học Mĩ là một nền văn học trẻ như­ng đã xuất hiện những nhà văn kiệt xuất như­ Hêminway, Giăc Lơn đơn…..Trong số đó, tên tuổi của O-hen-ri nổi bật lên như­ một tác giả truyện ngắn tài danh. Chiếc lá cuối cùng là một trong những truyện ngắn h­ướng vào cuộc sống nghèo khổ, bất hạnh của ngư­ời dân Mĩ, vào sức mạnh của nghệ thuật chân chính đem lại niềm tin cho con người.

Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập: GV đánh giá, nhận xét kết quả làm việc của HS.

3. Sản phẩm học tập: Câu trả lời của học sinh.

4. Phương án đánh giá: GV đánh giá trực tiếp phần trả lời của HS.

Hoạt động 2: Hình thành kiến thức lí thuyết (45p)

1. Mục tiêu

Hoạt động học (Thời gian)Mục tiêu (Số thứ tự YCCĐ)Nội dung dạy học trọng tâmPP/KTDH chủ đạoPhương án đánh giá
Hoạt động 2 Khám phá kiến thức 45p(1) )Hiểu được những tri thức cơ bản về tác giả, tác phẩm. (2)Tóm tắt văn bản. (3) Nhận biết được một số yếu tố của văn bản truyện dịch: chi tiết, nhân vật.  (3) Nhận biết được một số yếu tố của truyện: tình huống, chi tiết, nhân vật. (4) Nhận biết và phân tích được về nhân vật qua hành động, ngôn ngữ đối thoại của nhân vật. (3) Nhận biết được chủ đề của tác phẩm: nghệ thuật chân chính hướng tới con người, vì con người.1.Tìm hiểu về tác giả, tác phẩm. 2. Tìm hiểu về các nhân vật. 3. Tìm hiểu về chủ đề.  Dạy học hợp tác. Đàm thoại gợi mở. Kĩ thuật Sơ đồ tư duy. Kĩ thuật phòng tranh.Hs tự đánh giá sơ đồ tư duy dưới sự hướng dẫn của Gv.

2. Tổ chức hoạt động

a/ Hoạt động Tìm hiểu chung về tác giả, tác phẩm

Chuyển giao nhiệm vụ học tập: Gv yêu cầu hs hoạt động theo nhóm, tóm tắt thông tin về tác giả, tác phẩm, tóm tắt nội dung văn bản ghi vào phiếu học tập.

Thực hiện nhiệm vụ học tập:

Học sinh (HS) tổng hợp thông tin về tác giả, tác phẩm, tóm tắt văn bản qua phiếu học tập.

– Giáo viên (GV) quan sát, hướng dẫn học sinh thảo luận, trả lời vào phiếu học tập.

Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập:

– GV gọi từ 1-2 nhóm HS trình bày kết quả.

– GV tổ chức cho các nhóm nhận xét lẫn nhau và tự nhận xét.

– GV bổ sung, hướng dẫn HS chốt các ý như sau:

Tác giả:

– O- Hen- ri ( 1862-1910)

– Nhà văn nổi tiếng người Mĩ.

– Chuyên viết truyện ngắn và sáng tác nhiều. Đề tài phong phú, đa dạng chủ yếu phản ánh cuộc sống nghèo khổ bất hạnh của người dân Mĩ, phê phán XH Mĩ sâu sắc.

Tác phẩm:

– Xuất xứ: Trích từ tác phẩm cùng tên.

– Thể loại:  truyện ngắn.

– Phương thức biểu đạt: Tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm.

– Nhân vật chính: Giôn-xi.

– Bố cục: 3 phần:

      +P1: Từ đầu….kiểu Hà Lan.

-> Giôn-xi đợi cái chết.

      + P2: Tiếp theo….vịnh Na-plơ.

-> Giôn- xi vượt qua cái chết.

      + P3: Còn lại.

-> Bí mật của chiếc lá cuối cùng.

– Tóm tắt văn bản.

b/ Hoạt động Đọc hiểu văn bản

Chuyển giao nhiệm vụ học tập: GV yêu cầu các nhóm HS dùng sơ đồ tư duy để tóm tắt những nội dung kiến thức đã tìm hiểu được về các nhân vật, chi tiết, tình huống, chủ đề và ý nghĩa đoạn trích được phân tích.

Thực hiện nhiệm vụ học tập:

– HS tổng hợp phần nội dung kiến thức đã tìm hiểu được về các nhân vật, chi tiết, tình huống, chủ đề và ý nghĩa đoạn trích được phân tích bằng sơ đồ tư duy.

– GV quan sát, nhắc nhở HS về quy tắc trình bày sơ đồ tư duy (nét đậm thể hiện ý chính, nét nhạt dần thể hiện các ý phụ, cách dùng từ khóa, biểu tượng…).

Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập

– GV gọi từ 1-2 nhóm HS trình bày kết quả.

– GV tổ chức cho các nhóm nhận xét lẫn nhau và tự nhận xét.

– GV bổ sung, hướng dẫn HS chốt các ý như sau:

(1). Diễn biến tâm trạng của Giôn-xi

* Hoàn cảnh:

-> Khó khăn, cuộc sống éo le, bệnh tật- hoàn cảnh của một bộ phận dân nghèo nước Mĩ.

* Khi bị bệnh nặng:

-> Yếu ớt, bệnh tình nghiêm trọng.

-> Chán nản, bi quan, tuyệt vọng, mất hết nghị lực và niềm tin vào sự sống.

-> Hoàn toàn buông xuôi, đầu hàng số phận, sẵn sàng đón nhận cái chết.

* Khi Xiu kéo mành lên:

-> Cảm nhận được sức sống mãnh liệt, bền bỉ của chiếc lá.

-> Vui vẻ, hoạt bát, lạc quan, mong muốn, khát khao được sống, hi vọng vào một tương lai tốt đẹp (Sự sống đã hồi sinh).

= > Nghệ thuật:

– Miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật tinh tế.

– Đảo ngược tình huống.

* Giôn-xi: từ tuyệt vọng, không muốn sống->  vui vẻ, muốn sống trở lại.

Nghị lực, tình yêu cuộc sống có thể giúp con người chiến thắng bệnh tật.

(2). Nhân vật Xiu

* Hoàn cảnh: là họa sĩ trẻ, nghèo, sống cùng Giôn-xi trong căn hộ cho thuê-> nghèo khổ.

* Khi Giôn xi bị ốm:

-> Quan tâm, lo lắng, chăm sóc chu đáo, hết lòng thương bạn.

-> Cô gái nhân hậu, bao dung, giàu lòng nhân ái.

 (3). Nhân vật cụ Bơ-men

* Hoàn cảnh: là họa sĩ ngoài 60 tuổi, mơ ước vẽ một kiệt tác; thường ngồi làm mẫu để kiếm tiền.

-> Cuộc sống khó khăn, luôn trăn trở với nghệ thuật.

-> Quan tâm, lo lắng, đồng cảm.

* Hành động: Cụ đã âm thầm vẽ chiếc lá trong đêm mưa rơi, gió thổi đúng vào lúc chiếc lá cuối cùng rụng.

-> Hành động cao đẹp, để cứu sống Giôn –xi.

-> Hành động dũng cảm, hi sinh cao cả vì nghệ thuật, vì con người.

* Kiệt tác Chiếc lá cuối cùng có sức mạnh kì diệu: Cứu sống Giôn-xi và tiếp thêm nghị lực, niềm tin vào cuộc sống để cô hồi sinh.

(4). Nghệ thuật: Sắp xếp tình tiết khéo léo. Đảo ngược tình huống  -> tạo sự bất ngờ.

(5). Chủ đề: Thông qua chi tiết Chiếc lá cuối cùng, tác giả trân trọng, ca ngợi tình người và ý nghĩa của tác phẩm nghệ thuật chân chính (ý nghĩa nhân văn sâu sắc).

– Căn cứ vào phần trình bày của các nhóm, GV lưu ý HS về cách thể hiện sơ đồ tư duy.

Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập

GV hướng dẫn, yêu cầu HS tự nhận xét, đánh giá kết quả làm việc của nhóm dựa trên

3. Sản phẩm học tập:

a/ Hoạt động Tìm hiểu chung về tác giả, tác phẩm: Phiếu học tập.

b/ Hoạt động Đọc hiểu văn bản: Sơ đồ tư duy.

4. Phương án đánh giá:

a/ Hoạt động Tìm hiểu chung về tác giả, tác phẩm

 HS tự đánh giá nội dung phiếu học tập dưới sự hướng dẫn của GV.

b/ Hoạt động Đọc hiểu văn bản:

HS tự đánh giá sơ đồ tư duy dưới sự hướng dẫn của GV.

Hoạt động 3: Luyện tập (20p)

1. Mục tiêu

Hoạt động học (Thời gian)Mục tiêu (Số thứ tự YCCĐ)Nội dung dạy học trọng tâmPP/KTDH chủ đạoPhương án đánh giá
Hoạt động 3 Luyện tập 20p(3) Nhận biết được một số yếu tố của truyện: tình huống, chi tiết, nhân vật.  (3) Nhận biết được chủ đề của tác phẩm: nghệ thuật chân chính hướng tới con người, vì con người. (7) Nhận ra và điều chỉnh được những sai sót, hạn chế của bản thân khi được giáo viên góp ý.Khái quát những vấn đề trọng tâm của tác phẩm. Luyện viết đoạn văn nêu cảm nhận của HS về nhân vật em yêu thích nhất trong TP.Dạy học hợp tác. Trò chơi.  Hs tự đánh giá dưới sự hướng dẫn của Gv.

2. Tổ chức hoạt động

Chuyển giao nhiệm vụ học tập:

GV yêu cầu HS hoạt động cá nhân, thực hiện trò chơi Ai nhanh hơn, trả lời miệng.

GV yêu cầu HS hoạt động cá nhân viết đoạn văn nêu suy nghĩ của em về một nhân vật mà em ấn tượng nhất trong tác phẩm.

Thực hiện nhiệm vụ học tập:

– HS hoạt động cá nhân, thực hiện trò chơi Ai nhanh hơn, trả lời miệng các câu hỏi do GV đặt ra.

– GV trực tiếp điều khiển trò chơi.

HS hoạt động cá nhân viết đoạn văn nêu suy nghĩ của em về một nhân vật mà em ấn tượng nhất trong tác phẩm.

– GV trực tiếp theo dõi, hướng dẫn HS viết đoạn văn.

Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập:

* Trò chơi Ai nhanh hơn:

– GV gọi HS nào có tín hiệu nhanh nhất trình bày phương án trả lời. Thực hiện lần lượt cho đến hết các câu hỏi.

– GV tổ chức cho HS tự đánh giá câu trả lời của bạn.

– GV bổ sung, hướng dẫn, chốt các phương án trả lời như sau:

? Đoạn trích kể về các nhân vật nào? (Giôn-xi, Xiu, cụ Bơ-men).

? Họ làm nghề gì? Cuộc sống của họ ntn? (Họ là những họa sĩ nghèo).

? Giôn-xi mắc căn bệnh gì? Thái độ của cô khi bị bệnh? (Giôn-xi mắc bệnh sưng phổi, cô rất tuyệt vọng, nghĩ đến cái chết).

? Ai đã giúp Giôn-xi chiến thắng bệnh tật? (Cụ Bơ-men).

? Cụ đã làm gì? (Vẽ chiếc lá cuối cùng).

? Chiếc lá đựơc đánh giá ntn?  (Là 1 kiệt tác).

? Cảm nhận của em về giá trị nhân văn của tác phẩm? ( Lòng yêu thương con người).

* Bài tập viết: Viết một đoạn văn nêu suy nghĩ của em về một nhân vật mà em ấn tượng nhất trong tác phẩm.

 HS tự viết được đoạn văn nêu suy nghĩ của em về một nhân vật mà em ấn tượng nhất trong tác phẩm.

Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ:

GV tổng kết và đánh giá kết quả làm việc của HS.

3. Sản phẩm học tập: Câu trả lời và phần trình bày của HS.

4. Phương án đánh giá: GV đánh giá trực tiếp phần trả lời miệng của HS.

Hoạt động 4: Vận dụng (15p)

1. Mục tiêu

Hoạt động học (Thời gian)Mục tiêu (Số thứ tự YCCĐ)Nội dung dạy học trọng tâmPP/KTDH chủ đạoPhương án đánh giá
Hoạt động 4 Vận dụng (15p)(6) Nêu được bài học về cách nghĩ và cách ứng xử của cá nhân do văn bản đã đọc gợi ra.Liên hệ với thực tế đời sống để làm rõ hơn bức thông điệp mà nhà văn muốn gửi gắm qua tác phẩm.PP DH giải quyết vấn đề.GV đánh giá trực tiếp phần phát biểu của HS.

2. Tổ chức hoạt động

Chuyển giao nhiệm vụ học tập:

GV đưa ra câu hỏi hướng dẫn HS giải quyết vấn đề: Nếu gặp người như nhân vật Giôn-xi ở ngoài đời em sẽ có cách ứng xử như thế nào? Tại sao?

Thực hiện nhiệm vụ học tập: HS giơ tay phát biểu trả lời câu hỏi theo sự suy nghĩ, cảm nhận của học sinh.

Báo cáo thực hiện nhiệm vụ học tập:

GV gọi HS trả lời câu hỏi, nhận xét, hướng dẫn HS trình bày ý kiến cá nhân về cách ứng xử của mình nếu được đặt vào hoàn cảnh của nhân vật.

Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập:

GV tổng kết, đánh giá kết quả làm việc của HS.

3. Sản phẩm học tập: Phần trình bày của HS.

4. Phương án đánh giá: GV đánh giá trực tiếp phần phát biểu của HS.

Hoạt động 5: Mở rộng (10p)

1. Mục tiêu

Hoạt động học (Thời gian)Mục tiêu (Số thứ tự YCCĐ)Nội dung dạy học trọng tâmPP/KTDH chủ đạoPhương án đánh giá
Hoạt động 5 Mở rộng (10p)(6)  Đọc mở rộng 1-3 truyện dịch với dung lượng tương đương với văn bản học chính thức.Liên hệ mở rộng với các tác phẩm khác để củng cố, hệ thống kiến thức trong chương trình.Trò chơiĐánh giá trực tiếp phiếu học tập của Hs.

2. Tổ chức thực hiện

– Tìm đọc một số truyện ngắn của O-hen-ri và các bài phân tích, bình giảng về văn bản “ Chiếc lá cuối cùng”. Vẽ tranh minh họa cho sự việc mà em ấn tượng nhất trong văn bản.

IV. Hồ sơ dạy học

A. NỘI DUNG DẠY HỌC CỐT LÕI

VĂN BẢN: CHIẾC LÁ CUỐI CÙNG (Trích) của O. Hen-ri

1/ TÌM HIỂU NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRUYỆN NGẮN CHIẾC LÁ CUỐI CÙNG

1.1Tìm hiểu về tác giả, tác phẩm: Tác giả Ô. Hen-ri và tác phẩm “Chiếc lá cuối cùng”.

1.2. Tìm hiểu về các nhân vật: Nhân vật Giôn-xi, nhân vật Xiu, nhân vật cụ Bơ-men.

1.3. Tìm hiểu về chủ đề: Ca ngợi ý nghĩa của nghệ thuật chân chính- tình yêu thương, sự cảm thông chia sẻ và hi sinh giữa con người đối với con người.

2/ VẬN DỤNG, LIÊN HỆ

Liên hệ với thực tế đời sống để làm rõ hơn bức thông điệp mà nhà văn muốn gửi gắm qua tác phẩm. Nêu được bài học về cách nghĩ và cách ứng xử của cá nhân do văn bản đã đọc gợi ra.

B. CÁC HỒ SƠ KHÁC

1/ Phiếu học tập

Phiếu học tập: Thông tin về tác giả, tác phẩm, tóm tắt văn bản

Tác giảTác phẩmTóm tắt văn bản
– Cuộc đời: ……. – Sự nghiệp sáng tác: ……– Xuất xứ: ……… – Thể loại: ……… – Phương thức biểu đạt:  …… – Bố cục: …….  ………………………………… ………………………………… ………………………………… …………………………………. ………………………………….

NGHỊ LUẬN VỀ SỰ VIỆC HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG

Nghị luận về sự việc hiện tượng đời sống

1. Đối tượng nghị luận

Trong đời sống xã hội thường xảy ra vô vàn những sự việc, hiện tượng. Xét về tính chất có những sự việc, hiện tượng lớn như chiến tranh, tình trạng tai nạn giao thông, tình trạng thiên tai, hỏa hoạn, sự xuống cấp về đạo đức, ô nhiễm môi trường, nạn bạo hành trong gia đình, nếp sống văn minh, lối sống thờ ơ vô cảm, đồng cảm, chia sẻ… Nhưng cũng có những lúc sự việc hiện tượng nhỏ, đơn giản như: sự thất hứa, thói đua đòi, đi học muộn, trang phục…Ngay trong từng sự việc, hiện tượng cũng có nhiều tình huống, nhiều cách biểu hiện, diễn biến khác nhau: Chẳng hạn như cùng là sự việc đi học, nhưng có người đi học chuyên cần, có người lại hay bỏ học…Hay cùng sự việc giữ vệ sinh công cộng nhưng người này thực hiện nghiêm túc, có trách nhiệm, người kia thường xuyên vi phạm, lại có người cùng thực hiện nhưng mang tính đối phó.

Đối tượng nghị luận: Là những sự việc, hiện tượng trong cuộc sống có tính chất nhật dụng, được mọi người quan tâm như: môi trường, giao thông, tệ nạn, cách ứng xử của giới trẻ, bạo lực học đường.v.v.

Như vậy, đối tượng nghị luận rất đa dạng: Có thể là hiện tượng tốt hoặc xấu, đáng khen hoặc đáng chê, đáng suy nghĩ.

Để làm tốt kiểu đề này, học sinh cần phải hiểu hiện tượng đời sống đưa ra nghị luận có thể có ý nghĩa tích cực, cũng có thể tiêu cực, có hiện tượng vừa tích cực vừa tiêu cực. Do vậy, cần căn cứ vào yêu cầu cụ thể của đề để gia giảm liều lượng cho hợp lí, tránh làm bài chung chung, không phân biệt được mặt tích cực, tiêu cực.

Ví dụ:

– Đề 1: Suy nghĩ của em về bệnh lười biếng của một số học sinh ngày nay.

– Đề 2: Ý kiến của em về thói ăn chơi đua đòi của lớp trẻ.

– Đề 3: Vượt lên số phận.

– Đề 4: Bệnh nói dối.

Đứng trước những sự việc hiện tượng ấy, con người cần phải bày tỏ thái độ của mình hoặc khen, hoặc chê, hoặc đồng ý, hoặc phản đối, hoặc khâm phục, hoặc tôn trọng, hoặc coi thường, hoặc chế giễu. Điều đó có nghĩa là trong quá trình hòa nhập vào đời sống xã hội, người ta phải rút ra những vấn đề có ý nghĩa tư tưởng trên cơ sở xem xét các sự việc, hiện tượng cụ thể. Từ đó điều chỉnh nhận thức, hành vi của mình và mọi người. Dưới hình thức nào, ở phạm vi mức độ nào, nghị luận về một sự việc, hiện tượng trong đời sống cũng thường bao gồm các khâu:

+ Bộc lộ nhận thức (thông qua mô tả, xem xét sự việc, hiện tượng và các biểu hiện khác nhau).

+ Đánh giá (thông qua ý kiến nhận xét về các mặt đúng-sai, phải-trái, lợi-hại…của sự việc, hiện tượng ấy).

+ Bày tỏ thái độ (khen-chê, đồng tình-phản đối, tiếp thu, khuyên bảo, khâm phục, phê phán…).

+ Hoặc kèm theo những lời lí giải (nêu nguyên nhân, dự báo hệ quả).

2. Dàn ý đoạn văn (bài văn) nghị luận về sự việc, hiện tượng đời sống

a/ Mở đoạn (mở bài): Khái quát vấn đề nghị luận (thường sử dụng một câu).

b/ Thân đoạn (thân bài)

  • Giải thích vấn đề nghị luận (giải thích các từ ngữ khó, các thuật ngữ…).
  • Bàn luận về thực trạng của vấn đề nghị luận (đưa ra các dẫn chứng trong thực tế hoặc trong văn học).
  • Bàn luận về nguyên nhân (nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan) dẫn đến thực trạng của vấn dề.
  • Bàn về hệ quả (hậu quả-vấn đề tiêu cực/kết quả-vấn đề tích cực) của vấn đề nghị luận.
  • Bàn về hướng khắc phục hoặc bài học rút ra cho bản thân và mọi người.

c/ Kết đoạn (kết bài): Nêu ý nghĩa của vấn đề nghị luận đối với cuộc sống.

3. Luyện tập

Đề bài: Nghị luận về tác hại của tệ nạn với cuộc sống của con người.

a/ Mở bài:

  • Dẫn dắt vấn đề: Xã hội đang phát triển từng ngày kéo theo nhiều vấn nạn gia tăng.
  • Nêu vấn đề nghị luận: Tệ nạn xã hội để lại những tác hại to lớn đối với sự phát triển nhân cách con người và xã hội.

b/ Thân bài:

Giải thích hiện tượng

  • Tệ nạn xã hội là hiện tượng phổ biến, là những hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội, vi phạm đạo đức, băng hoại nhân cách, ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội, cản trở sự phát triển lành mạnh của đất nước.
  • Các tệ nạn xã hội như: cờ bạc, rượu chè, hút thuốc lá, ma túy, mê tín dị đoan…

Thực trạng tệ nạn xã hội hiện nay

  • Bên cạnh sự phát triển từng ngày của đất nước thì các tệ nạn cũng đang lan rộng và phức tạp hơn.
  • Các tệ nạn xã hội phổ biến ảnh hưởng sâu sắc đến mọi mặt đời sống.

Tác hại

  • Tệ nạn xã hội ảnh hưởng đến sức khỏe, về mặt tinh thần, thể xác thậm chí là cả tính mạng.
  • Làm cho xã hội trở nên không lành mạnh.
  • Làm cho đất nước kém phát triển, xã hội không còn tốt đẹp văn minh.
  • Gia đình tan nát: vợ chồng li dị, cha mẹ mất con cái…gây nên những cảnh đau thương.
  • Làm cho con người lương thiện trở nên mất nhân tính, bất chấp mọi thứ.
  • Gây nên nhiều vụ giết người, cướp của ảnh hưởng xấu đến an ninh đất nước.

Nguyên nhân

  • Nguyên nhân hàng đầu là do bản thân mỗi người không có ý thức, không làm chủ được bản thân trước những cám dỗ của tệ nạn xã hội.
  • Bản thân mỗi người lười lao động, học đòi, bắt chước…
  • Do gia đình, nhà trường quản lí con em chưa chặt chẽ, không có thời gian quan tâm con cái.

Giải pháp và liên hệ bản thân

  • Bản thân mỗi người cần tự ý thức, làm chủ bản thân tránh xa các tệ nạn xã hội.
  • Gia đình, nhà trường, xã hội cần có các biện pháp giáo dục quản lí con em để không sa vào tệ nạn xã hội.
  • Liên hệ bản thân: Mỗi chúng ta, nhất là lứa tuổi học sinh tâm sinh lí đang thay đổi, cần giữ mình không để bản thân sa vào các tệ nạn xã hội.

c/ Kết bài

  • Khẳng định lại vấn đề: Tệ nạn xã hội luôn là mối lo ngại hàng đầu của đất nước, đó là mối nguy hại không chỉ trước mắt mà còn là lâu dài cần tháo gỡ.
  • Lời nhắn đến mọi người: Nếu mỗi người sống một cách văn mình thì chắc chắn tệ nạn sẽ được đẩy lùi.

CÁCH VIẾT ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

1. Kiến thức cơ bản

Đoạn văn là đơn vị trực tiếp cấu tạo thành văn bản, diễn đạt một nội dung nhất định. Hình thức được mở đầu bằng việc lùi đầu dòng, kết thúc chấm và ngắt đoạn. Nội dung của đoạn văn phù hợp, hoàn chỉnh trọn vẹn ý. Những thành phần, đơn vị khác trong đoạn văn không phải lúc nào cũng có sự hoàn chỉnh về nội dung.

Câu chủ đề: là câu bao chứa trọn vẹn nội dung chính của đoạn văn, câu có hình thức ngắn gọn, đầy đủ thành phần chính, có thể đứng ở đầu hoặc cuối câu.

Từ ngữ chủ đề: là các từ ngữ được dùng làm đề mục hoặc các từ ngữ được lặp đi lặp lại nhiều lần nhằm duy trì đối tượng biểu đạt.

Các kiểu đoạn văn thường sử dụng trong văn bản:

+Đoạn văn diễn dịch,

+ Đoạn văn quy nạp,

+ Đoạn văn song hành,

+ Đoạn văn móc xích,

+ Đoạn văn tổng phân hợp,

+ Đoạn văn nêu phản đề,

+ Đoạn văn so sánh,

+ Đoạn văn phân tích nhân quả,

+ Đoạn văn vấn đáp.

2. Cấu trúc chung khi viết đoạn văn nghị luận xã hội

  • Bước 1: Xây dựng câu mở đoạn

Câu mở đoạn: thường chỉ được dùng một câu (câu tổng hợp-chứa đựng thông tin của đề thi yêu cầu. Câu này mang tính khái quát cao).

  • Bước 2: Xây dựng thân đoạn

* Giải thích các cụm từ khóa, giải thích các thuật ngữ (giải thích nghĩa đen, nghĩa bóng, cần ngắn gọn, đơn giản).

* Bàn luận:

+ Đặt ra các câu hỏi và trả lời:

Vì sao?

Biểu hiện như thế nào?

Ý nghĩa của vấn đề đó đối với cuộc sống và con người?

Tác động hoặc tác hại của vấn đề nghị luận đối với cuộc sống và con người?

+ Sau đó bình luận, chứng minh từng ý lớn (có thể chọn theo các mô típ viết từ: gia đình, nhà trường, xã hội hoặc trong học tập, lao động, sinh hoạt hằng ngày…).

+ Đưa ra dẫn chứng phù hợp, ngắn gọn, chính xác (tuyệt đối không kể chuyện dông dài, tán gẫu, sáo rỗng, có thể đưa dẫn chứng thực tế, dẫn chứng văn học).

+ Trong quá trình phân tích dẫn chứng có thể lồng cảm nghĩ, đánh giá liên hệ.

* Bàn luận mở rộng: bàn luận phản đề hoặc mở rộng vấn đề- đồng tình hoặc không đồng tình.

* Bài học nhận thức và hành động cho bản thân, mọi người.

– Bước 3: Viết kết đoạn

Khái quát lại giá trị của vấn đề nghị luận, rút ra bài học.

3. Luyện tập

Đề bài: Bàn về vai trò và tác dụng to lớn của sách trong đời sống tinh thần của con người, nhà văn M. Go-rơ-ki có viết: “Sách mở rộng trước mắt tôi những chân trời mới”. Hãy giải thích và bình luận ý kiến trên.

a/ Xác định luận đề

Bài văn cần làm sáng tỏ vấn đề gì? Quan điểm của chúng ta về vấn đề đó như thế nào?

b/ Xác định các luận điểm

Căn cứ vào đề bài, vào yêu cầu của bài văn và huy động những hiểu biết của mình, anh (chị) hãy suy nghĩ và trả lời các câu hỏi sau đây:

  • Sách là gì?
  • Sách có tác dụng như thế nào?
  • Thái độ đối với sách và việc đọc sách như thế nào?

c/ Tìm luận cứ cho các luận điểm

Hãy lần lượt trả lời các câu hỏi sau đây:

  • Đối với luận điểm 1 (Sách là sản phẩm tinh thần kì diệu của con người):

+ Sách là sản phẩm thuộc lĩnh vực nào của con người?

+ Sách phản ánh, lưu giữ những thành tựu gì của nhân loại?

+ Sách có chịu ảnh hưởng của thời gian và không gian không?

  • Đối với luận điểm 2 (Sách mở rộng những chân trời mới):

+ Sách đem lại cho con người những hiểu biết gì về tự nhiên và xã hội?

+ Sách có tác dụng như thế nào đối với cuộc sống riêng tư và quá trình tự hoàn thiện mình?

  • Đối với luận điểm 3: (Cần có thái độ đúng đối với sách và việc đọc sách):

+ Thái độ của anh chị đối với các loại sách?

+ Đọc sách như thế nào là tốt nhất?

HAI BIỂN HỒ

Người ta bảo ở bên Pa-le-xtin có hai biển hồ… Biển hồ thứ nhất gọi là biển Chết. Đúng như tên gọi, không có sự sống nào bên trong cũng như xung quanh biển hồ này. Nước trong hồ không có một loại cá nào có thể sống nổi. Ai ai cũng đều không muốn sống gần đó. Biển hồ thứ hai là Gi-li-lê. Đây là biển hồ thu hút nhiều khách du lịch nhất. Nước ở biển hồ lúc nào cũng trong xanh mát rượi, người có thể uống được mà cá cũng sống được. Nhà cửa được xây cất rất nhiều ở đây. Vườn cây xung quanh tốt tươi nhờ nguồn nước này.

Nhưng điều kì lạ là cả hai biển hồ này đều được đón nhận nguồn nước từ sông Giooc-đăng. Nước sông Giooc-đăng chảy vào biển Chết. Biển Chết đón nhận và giữ riêng cho mình mà không chia sẻ nên nước trong biển Chết trở nên mặn chát. Biển hồ Ga-li-lê cũng đón nhận nguồn nước từ sông Giooc-đăng rồi từ đó tràn qua các hồ nhỏ và sông lạch, nhờ vậy nước trong hồ này luôn sạch và mang lại sự sống cho cây cối, muông thú, con người.

Một định lí trong cuộc sống mà ai cũng đồng tình: Một ánh lửa sẻ chia là một ánh lửa lan tỏa, một đồng tiền kinh doanh là một đồng tiền sinh lợi. Đôi môi có hé mở mới thu nhận được nụ cười. Bàn tay có mở rộng trao ban, tâm hồn mới tràn ngập vui sướng.

Thật bất hạnh cho ai cả cuộc đời chỉ biết giữ riêng cho mình. “Sự sống” trong họ rồi cũng sẽ chết dần chết mòn như nước trong lòng biển Chết…

Theo Quà tặng của cuộc sống

(SGK Ngữ văn 7 tập 2- NXB Giáo dục Việt Nam-trang 11)

MỘT SỐ LỖI THƯỜNG GẶP KHI HỌC TẬP CÁC MODULE CHƯƠNG TRÌNH GDPT 2018

Chương trình Bồi dướng-tập huấn giáo viên phổ thông cốt cán năm 2020 tại Trường Đại học Sư phạm HN 2

Lỗi không truy cập được vào tài khoản học tập

Hãy kiểm tra lại từng chữ trên tài khoản và mật khẩu của bạn. Có thể địa chỉ email và tên tài khoản của bạn khi được dự án cấp cho bị thừa/thiếu chỉ một chữ cái thôi là bạn cũng không đăng nhập được tài khoản học tập.

Ví dụ 1: Một cô giáo có địa chỉ email: ntththcsabc@abcmail.com  nhưng tài khoản đăng nhập lại chỉ có nththcsabc@abcmail.com . Chỉ sai khác một kí tự thôi mà phải mất rất nhiều thời gian mới tìm ra được lỗi đấy bạn ạ! Thảo nào mãi không vào mà học được.

Có trường hợp hai người chung một hòm thư điện tử, người nào đăng kí và sử dụng trước thì người đó đăng nhập được. Người còn lại sẽ phải dùng một hòm thư điện tử khác đăng kí với dự án để được cấp tài khoản học tập.

Ví dụ 2: Trường tôi có hai cặp vợ chồng cùng là giáo viên. Họ chung địa chỉ email cho …tiện. Thế là mọi người học rồi mà mình không thể nào truy cập vào tài khoản được. Tìm đủ cách không được. Bí quá phải hỏi tổng đài. Hóa ra là lỗi: hai người không thể xỏ chung một chiếc giày!

Lỗi không kiểm tra được mình học thiếu nội dung nào

Bạn hãy quan sát kĩ thư mục. Dấu tích xanh thể hiện bạn đã đủ nội dung. Dấu tròn đỏ (đôi khi bạn không để ý vì nó rất nhỏ) thể hiện bạn chưa xong nội dung đó. Hãy quay trở lại và bắt đầu từ nội dung đó bạn nhé!

Lỗi thiếu bài, bỏ qua bài

Trong khi đọc văn bản hoặc xem video, hệ thống sẽ đưa câu hỏi và bài tập. Nếu bạn “ăn gian” thì có thể vào lúc đó bài tập của bạn đã bị bỏ lỡ. Bạn có thể quay lại đoạn trước đó và bắt đầu lại để đủ bài tập. Điểm số 100/100 ai mà chả thích phải không bạn?.

Lỗi không làm bài khảo sát cuối khóa

Bài tập này không hiển thị cùng nội dung bài học của bạn. Vậy nên bạn rất dễ bỏ qua. Hãy “lục soát” khắp trang để chắc chắn mình không bỏ sót bất cứ chi tiết nào nhé. Vì thiếu bài khảo sát này thì…xin chia buồn, bạn đã…”tạch”!

Gi gỉ gì gi cái gì cũng hỏi

Hỏi ai được? Xin thưa rằng bạn có một số điện thoại rất dễ nhớ chuyên giải quyết mọi thắc mắc về việc học mô đun tập huấn đại chà chương trình GDPT 2018. Hãy nhấc máy gọi tổng đài Viettel 18008000 chọn nhánh 2 để tổng đài có cơ hội được phục vụ bạn nhé!

Lời kết

Năm học 2020-2021 đã thực hiện chương trình GDPT 2018 đối với lớp 1 bậc học Tiểu học. Năm học 2021-2022 là năm học khởi động chương trình GDPT 2018 đối với lớp 6 bậc học Trung học cơ sở. Năm học của bậc học THCS đã gần lắm rồi. Chúc các bạn đồng nghiệp có một mùa học tập online bồi dưỡng các module đạt kết quả cao, mang lại sự khởi đầu mới mẻ, thành công, thắng lợi cho năm học tới!

Mùa đông online-2021

dayhocnguvan.com

LỜI GIỚI THIỆU

Vươn đến thành công bằng cách nâng đỡ người khác

Tôi là người yêu văn học từ thủa nhỏ. Nhớ lại ngày còn thơ, biết bao lần bị bố mẹ rầy la vì ngồi nấu cơm mà ôm quyển sách, mê đến nỗi không ngửi thấy mùi cơm khê, canh cháy. Rồi lớn hơn tí nữa, tôi ghiền tiểu thuyết, ngày nào cũng phải ra hiệu thuê truyện về đọc. Mắt không muốn rời trang sách, chỉ lo đến cuối truyện thì không còn gì mà đọc. Nhớ lại chuyện cũ, nhiều lần tự cười một mình vì niềm mê say thời thơ trẻ đó thật đáng nhớ, đáng yêu.

Thời gian trôi đi bằng một mũi tên tuyến tính. Tôi trở thành sinh viên khoa Văn học. Tôi thỏa sức vẫy vùng trong tất cả những môn học chỉ có liên quan đến văn chương. Tôi thỏa mãn ước mơ thời phổ thông của tôi là không phải động đến những con số và công thức nữa. Thật tuyệt vời những ngày tháng quên ăn quên ngủ miệt mài sách vở trên thư viện. Biết bao chân trời mới mở ra, nới thêm giới hạn cho những con chữ mà tôi còn “thòm thèm” khi học phổ thông. 

Và rồi theo quy luật của sự trưởng thành, tôi bước vào nghề nghiệp để tự đi trên đôi chân của mình. Tôi vẫn chọn con đường tôi yêu thích- con đường văn chương. Tôi trở thành một giáo viên dạy văn. Khi nghề nghiệp và cuộc sống đưa theo bao điều ràng buộc cùng trách nhiệm, người ta phải sống vì nhiều mục đích, lí do hơn là thời tuổi trẻ chỉ có ước mơ, hoài bão. Tôi xác định rằng tâm huyết của mình, kiến thức của mình cần phải phục vụ cho nhiều người nhất có thể. Bởi chỉ có cho đi thì ta mới được nhận lại. Rằng nghề nghiệp của mình là nghề nghiệp của một đời tằm. Con tằm ăn lá dâu thì phải nhả ra thứ tơ óng mà muôn người yêu thích. Làm thầy cũng vậy, đã nhận ở cuộc đời nhiều ân huệ thì ta cũng phải đền đáp cho cuộc đời. Âu cũng là nghĩa trả-vay ở đời này vậy.

Trong thời đại công nghệ phát triển đến đời 4.0 thì bài tôi giảng cho mấy chục học sinh ngồi chăm chú ngay gần bục giảng là không đủ. Vậy nên tôi lập trang “ GIỎI VĂN MỖI NGÀY” coi như một cách tri ân cuộc đời, nâng cao tay nghề của bản thân, trao đổi giao lưu với đồng nghiệp, bạn bè và giúp các em học sinh thân yêu trên mọi miền có thêm một tư liệu tham khảo. Từ đó chúng ta cùng nhau nâng cao kiến thức, kĩ năng, hướng tới nâng tầm. 

Rất mong nhận được sự ủng hộ của quý thầy cô, bạn bè và các em học sinh. Mọi thông tin liên hệ xin được chào đón tại: 

Xin trân trọng cảm ơn!

Phạm Thị Minh Loan

dayhocnguvan.com

1 2