VỀ NHÂN VẬT MẸ CHỒNG TRONG HAI CÂU CHUYỆN CỦA HAI THỜI ĐẠI: CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG (NGUYỄN DỮ) VÀ VỢ NHẶT (KIM LÂN)

Trong tác phẩm tự sự, nhân vật là linh hồn của tác phẩm, là hình tượng mang thông điệp của nhà văn. Khi xây dựng nhân vật, nhà văn có thể miêu tả đầy đủ các chi tiết từ lai lịch, ngoại hình, đến hành động, ngôn ngữ… Trong bài viết này chúng ta chỉ đề cập đến lời trăng trối của nhân vật bà mẹ Trương Sinh và độc thoại của nhân vật bà cụ Tứ để khám phá vẻ đẹp của những người mẹ chồng, những người phụ nữ bình dị sống ở những thời đại khác nhau nhưng lại có cùng một vẻ đẹp.

Ngôn ngữ của nhân vật văn học có tính cá thể hóa cao, mang đậm dấu ấn cá nhân, dấu ấn phong cách của nhà văn. Vì thế, việc lựa chọn lời thoại cho nhân vật là một dụng công nghệ thuật. Trong Chuyện người con gái Nam Xương (Nguyễn Dữ) và Vợ nhặt (Kim Lân), người đọc có lẽ ấn tượng không chỉ với nhân vật Vũ Nương, Trương Sinh, Tràng, thị, mà còn không quên hình ảnh hai người mẹ chồng. Dù xuất hiện theo cách ít, nhiều, trực tiếp hay gián tiếp nhưng xả hai nhân vật này đều mang đến những giá trị sâu sắc, đánh thức trong lòng người đọc bao lẽ đời.

1. Về người mẹ chồng của Vũ Nương

Trước hết, ta tìm hiểu lời thoại của mẹ chồng Vũ Nương (Chuyện người con gái Nam Xương). Vì tuổi già, vì lâm bệnh, mẹ Trương Sinh không thể kéo dài sự sống để chờ đợi con trai, bà đã trăng trối với con dâu: “Ngắn dài có số, tươi héo bởi trời… Chồng con nơi xa xôi không biết sống chết thế nào, không thể về đền ơn được. Sau này, trời xét lòng thành, ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ”.

Thật xúc động trước lời của mẹ chồng dành cho nàng dâu. Từ lời trăng trối ấy, ta nhận thấy mối quan hệ hai chiều trong tình cảm mẹ chồng – nàng dâu. Người mẹ thấu hiểu công lao và sự thơm thảo của con dâu trong những ngày Vũ Nương làm dâu phụng dưỡng bà. Điều này trong xã hội phong kiến không dễ dàng tìm thấy, bởi ca dao xưa vẫn có câu:

Trách cha trách mẹ nhà chàng

Cầm cân chẳng biết là vàng hay thau. 

(Ca dao)

Đặc biệt, mẹ chồng Vũ Nương đã nhắn nhủ con dâu bằng tất cả niềm tin, hy vọng “trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con cũng chẳng phụ mẹ”. Đó là sự ghi nhận công ơn nàng dâu. Người mẹ chồng nghĩ rằng công ơn con dâu đối với mình có trời xanh thấu hiểu, nên trời sẽ ban phúc. Đó là niềm tin, hy vọng vào đức cao của Vũ Nương. Niềm tin dựa vào đạo đức trong sáng của con người là điều không lạ, nhưng trong câu chuyện này, đó là niềm tin, hy vọng của mẹ chồng dành cho nàng dâu. Thật hiếm có người mẹ chồng nào thấu hiểu và thành thực ghi nhận công ơn của con dâu một cách sâu sắc, thấm thía như thế. Đó chính là chất nhân văn tỏa ra từ một lời thoại đầy xúc động. Chất nhân văn trong lời nói ấy không chỉ là tình thương yêu trân trọng mà còn là niềm tin chân thành, thánh thiện vào vẻ đẹp của con người. Chỉ có vẻ đẹp trong nhân cách con người mới làm cho người ta tin tưởng vào những điều tốt đẹp một cách mãnh liệt đến thế.

2. Về người mẹ chồng của “vợ nhặt”

Nếu như ngôn ngữ độc thoại của các nhân vật góp phần tạo nên giọng điệu riêng của nhà văn, thì lời độc thoại của bà cụ Tứ trong Vợ nhặt của Kim Lân là một trường hợp tiêu biểu. Trong rất nhiều chi tiết, nhiều lời thoại của bà cụ Tứ, có một lời thoại khiến ta luôn day dứt bởi chất nhân văn vút lên từ đó. Khi bà lão bất ngờ gặp thị, người đàn bà xa lạ ở trong nhà mình, ngồi ở đầu giường con trai bà, dù chưa hỏi chuyện, chưa nghe lời thưa gửi nhưng bà cụ Tứ đã nghĩ, đã hiểu: “Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được…”. 

Số phận ba con người trong Vợ nhặt được đặt trong bối cảnh phải đối diện với chỗ kiệt cùng của sự sống, cái đói và cái chết đang truy đuổi. Bà cụ Tứ và Tràng không thể lo nổi miếng ăn cho mình và ngày mai có thể cũng chỉ là bức tranh đen tối, chết chóc. Thế nhưng bà đã nhìn người đàn bà xa lạ tình cờ gặp gỡ, cô con dâu mới ấy bằng tấm lòng thương cảm, trân trọng và cả sự hàm ơn rất đặc biệt. Không những mình biết ơn mà còn biết ơn thay con trai mình. Lời nói của bà cụ Tứ chứa chan lòng nhân hậu bao la.

Không dễ gì để những người phụ nữ, người mẹ chồng trong những hoàn cảnh này lại có cách nhìn thấu tỏ như bà cụ Tứ. Bao quan niệm, bao định kiến như án ngữ tồn tại ngàn đời trong suy nghĩ của những người phụ nữ, người mẹ chồng. Và nhất là trong những cảnh ngộ, tình huống mà gia cảnh của mình không có cái ăn, cái mặc, lại phải đèo bòng lấy một cô con dâu rách như tổ đỉa, nghèo xơ xác, không ngọn nguồn… Với hoàn cảnh này, người ta thường sẽ hờn trách số phận, không chấp nhận dễ dàng, nghĩ phần hơn về mình chứ thật khó nghĩ cho người khác. Còn bà cụ Tứ đã vượt qua những rào cản quen thuộc ấy để chấp nhận nàng dâu một cách đơn giản mà vô cùng thấu hiểu. Dù là lời độc thoại nhưng ta có thể hình dung ánh mắt của bà dành cho nàng dâu mới qua ý nghĩ ấy. Thì ra, càng đối diện với sự kiệt cùng, con người ta càng có những suy nghĩ, cách sống giàu lòng nhân ái. Phải chăng đây chính là giá trị nhân văn sâu sắc của tác phẩm.

Hai nhân vật, hai bà mẹ chồng được xây dựng trong hai tình huống khác nhau, hai thời đại khác nhau nhưng ở họ đã có sự gặp gỡ. Đó chính là sự thấu hiểu lẽ đời, hiểu phận người, là tấm lòng nhân hậu, bao dung, tri ân sâu sắc. Chất nhân văn vút lên từ đó, khơi dậy cho người đọc tin vào vẻ đẹp nhân cách, tâm hồn của những người phụ nữ bình thường mà thánh thiện. Người nghệ sĩ là người làm giàu cho cuộc sống là vậy.

(Lê Thị Hoàng Anh-Quảng Bình)