PHÂN BIỆT NĂNG LỰC NGÔN NGỮ VÀ NĂNG LỰC VĂN CHƯƠNG

Phan biet nang luc ngon ngu va nang luc van chuong

PGS-TS ĐỖ NGỌC THỐNG

Bên cạnh yêu cầu phát triển phẩm chất và năng lực chung, chương trình Ngữ văn 2018 tập trung hình thành và phát triển hai năng lực đặc thù quan trọng là năng lực ngôn ngữ (NLNN) và năng lực văn học (NLVH). Hai năng lực này đều được thể hiện qua các kĩ năng đọc, viết, nói, nghe. Việc đánh giá NLNN và NLVH cũng phải thông qua các kĩ năng này. Vậy giữa hai năng lực có điểm gì khác nhau?

Về đọc hiểu, yêu cầu của NLNN là đọc hiểu các văn bản thông thường, đơn nghĩa, chủ yếu là văn bản thông tin và một số văn bản nghị luận đơn giản. NLVH cũng yêu cầu đọc hiểu, nhưng là đọc hiểu văn bản văn học, là văn chương hư cấu, là đọc các hình tượng nghệ thuật được tạo nên bởi chất liệu ngôn từ, là văn bản đa nghĩa. Hiểu là quan trọng, từ hiểu mà rung động, cảm nhận, thưởng thức, đánh giá tác phẩm có cơ sở hơn, sâu sắc hơn; biết lí giải cái hay, cái đẹp, chỉ ra cái lí của các hình thức nghệ thuật… Nói cách khác đánh giá, cảm thụ văn học trên cơ sở của đọc hiểu sẽ giúp người đọc thoát khỏi tình trạng thích mà không hiểu vì sao mà mình thích, tình trạng mà nhà phê bình văn học Nga V.Bielinxki (1811-1848) gọi là “sự thích thú đau khổ”.

Tương tự đọc hiểu là viết. Với NLNN là yêu cầu viết các văn bản thông thường, nội dung đơn giản, rõ nghĩa như các văn bản thông tin. Còn viết NLNH là biết tạo ra ý, từ ý đúng đến ý hay, ý sáng tạo mới mẻ, độc đáo. Từ ý tưởng biết sử dụng ngôn ngữ như dùng từ đặt câu, các biện pháp tu từ để diễn đạt ý tưởng một cách hình ảnh, khác lạ, hấp dẫn… NLVH thể hiện ở kĩ năng viết còn là yêu cầu biết tạo ra các sản phẩm mang tính nghệ thuật: bài văn nghị luận, ghi chép, bài văn miêu tả, tự sự… Những học sinh có năng khiếu có thể có các bài thơ, truyện ngắn, bút kí… ngay khi còn trên ghế nhà trường.

Với kĩ năng nói và nghe, NLNN thể hiện qua các yêu cầu giao tiếp thông thường, nói nghe tự tin, rõ ràng, có thái độ phù hợp, gần gũi với ngôn ngữ đời sống… Với NLVH, nói và nghe không chỉ yêu cầu như NLNN mà còn phải biết nói hay, nói có sức thuyết phục, biết kết hợp lời nói và ngôn ngữ hình thể; từ nói đúng, nói hay đến diễn thuyết hấp dẫn, hùng biện.

Từ sự phân biệt tương đối nêu trên, việc đánh giá năng lực sẽ xác định được đề thi phù hợp. Mục tiêu đánh giá năng lực nào thì đề tập trung vào các yêu cầu ấy. Kiến thức lí luận và lịch sử văn học chỉ là công cụ để giúp học sinh đọc hiểu, cảm thụ tốt tác phẩm và viết bài nghị luận văn học hay hơn. Vì thế đánh giá NLVH, nhất là với học sinh giỏi thì quan trọng hơn cả là yêu cầu đọc hiểu và phân tích, cảm thụ tác phẩm văn học. Nhưng để tránh chép văn mẫu, để đo được chính xác năng lực vận dụng và sáng tạo cần yêu cầu học sinh đọc hiểu và viết về một văn bản mới, chưa được học. Đối với học sinh bình thường, yêu cầu NLNN lại cần được coi trọng. Khi đó chỉ cần yêu cầu đọc hiểu và viết các văn bản thông thường, nhất là văn bản thông tin. Tất nhiên vẫn có văn bản văn học, nhưng độ khó không thể như yêu cầu với học sinh giỏi. Việc kiểm tra thường xuyên vẫn cần đánh giá cả các văn bản đã học, nhưng với đánh giá định kì nên yêu cầu vận dụng kĩ năng đọc, viết với ngữ liệu mới.

NLVH thể hiện ở cả bốn kĩ năng đọc, viết, nói, nghe. Đánh giá năng lực này của học sinh có thể bằng nhiều cách. Tuy nhiên phù hợp hơn cả là yêu cầu các em đọc hiểu văn bản văn học (VBVH); hạn chế yêu cầu đọc hiểu văn bản thông tin hay văn bản nghị luận; hai loại này phù hợp hơn với yêu cầu trong đánh giá NLNN.

VBVH được viết bằng nhiều thể loại, với học sinh phổ thông chỉ nên yêu cầu đọc hiểu một số thể loại thông thường. Tiểu học chủ yếu đọc hiểu thơ và truyện; THCS gồm thơ, truyện, kí, kịch; THPT cũng vẫn là các thể loại lớn ở THCS nhưng chú ý hơn đến đặc điểm thể loại; yêu cầu cao hơn về độ khó. Cho dù thế cũng không nên đánh đố học sinh bằng các nhận định lí luận văn học, hay văn học sử quá phức tạp, rắc rối. Những kiến thức lí luận hay văn học sử là cần thiết, nhưng chỉ là công cụ để giúp học sinh đọc hiểu VBVH có hiệu quả hơn.

Để ra đề kiểm tra NLVH cần bám sát vào các yêu cầu cần đạt của mỗi lớp đã ghi trong chương trình. Tuy nhiên đánh giá việc đọc hiểu VBVH thường tập trung vào yêu cầu cơ bản, phù hợp với học sinh mỗi cấp học. Dù sử dụng hình thức nào thì đánh giá việc hiểu một VBVH cũng cần tập trung vào một số yêu cầu sau:

a/ Văn bản ấy nói về việc / chuyện gì? Việc / chuyện ấy có gì đặc sắc?

b/ Qua việc / chuyện ấy người viết (tác giả) muốn nói điều gì với người đọc? Vì sao có thể hiểu đó là điều tác giả muốn nói? Liệu có thể hiểu khác được không?

c/ Điều người viết muốn gửi gắm được thể hiện qua các yếu tố hình thức nào? Vì sao sử dụng hình thức ấy là hay, sâu sắc và phù hợp với điều muốn nói?

Các yêu cầu nêu trên là khái quát. Yêu cầu a/ là thấp nhất, đó là hiểu nội dung bề nổi của văn bản, học sinh chỉ cần đọc qua là có thể trả lời được. Yêu cầu b/ bắt đầu cao hơn, học sinh phải hiểu thông điệp chìm khuất sau văn bản; hiểu bề sâu, cái không hiển ngôn trên văn bản; chỉ ra văn bản viết về chuyện này nhưng là để nói chuyện khác. Thông điệp chìm khuất ấy là khả biến, là khoảng trống, nhiều tầng, mỗi người đọc có thể tiếp nhận khác nhau. Nhưng tiếp nhận phải có căn cứ, không thể suy diễn bừa bãi, nên cần yêu cầu lí giải “Vì sao?”. Yêu cầu c/ là yêu cầu đánh giá và lí giải sự phù hợp giữa hình thức biểu đạt và nội dung văn bản; là một yêu cầu khó hơn. Cuối cùng d/ yêu cầu học sinh liên hệ để thấy sự tác động của văn bản có ý nghĩa đối với cuộc sống của chính mình như thế nào; thấy văn bản nói chuyện xưa mà vẫn có giá trị với bây giờ…

Từ các yêu cầu cơ bản nêu trên để ra đề kiểm tra. Trước hết cần xác định mục tiêu và nội dung của việc kiểm tra-đánh giá, tiếp đến là lựa chọn văn bản đọc hiểu, sau đó xác định hình thức (trắc nghiệm, tự luận) và cài đặt các yêu cầu nêu trên vào đề cũng như đáp án. Và đương nhiên qua bài văn sẽ đánh giá được năng lực viết của học sinh nên cần dành điểm cho năng lực này.