TRÁN THI SĨ VƯỢT MÂY NHƯNG TRONG RUỘT THƠ VẪN CHÁY LÊN NGỌN LỬA ĐỜI RẤT ẤM

Tran thi si cham may nhung trong ruot tho van chay len ngon lua doi rat am

“Trán thi sĩ vượt mây nhưng trong ruột thơ vẫn cháy lên ngọn lửa đời rất ấm” (Xuân Diệu)

Nói về thơ Nguyễn Trãi, nhà thơ Xuân Diệu cho rằng” Trán thi sĩ chạm mây nhưng trong ruột thơ vẫn cháy lên ngọn lửa đời rất ấm”. Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Bằng những hiểu biết về thơ Nguyễn Trãi, hãy làm sáng tỏ.

Cứ như là biển rì rầm, là gió mênh mang, cứ như chiều về đong đầy trong đôi mắt ưu tư của bao người một niềm xúc cảm, có phải văn học là chốn tìm về của những trái tim rung động, là thứ ánh sáng diệu kì rọi vào sâu thẳm cõi lòng người? Lang thang trong những nẻo đường văn học, ta bắt gặp cái nhẹ nhàng, giản dị mà thanh cao toát ra từ hồn thơ Nguyễn Trãi-một nhà thơ lớn của dân tộc. Những tác phẩm ông để lại cho đời tựa như đang cựa mình thức giấc, hướng tới chỗ sâu kín, thiết tha và cao đẹp nhất trong tâm hồn người, làm khơi dậy bao nhiêu tình cảm đẹp. Nó xứng đáng là những vì sao rực rỡ nhất trong bầu trời lấp lánh bao vì tinh tú của thi ca dân tộc. Nhận xét về thơ Nguyễn Trãi, Xuân Diệu viết: “Trán thi sĩ chạm mây nhưng trong ruột thơ vẫn cháy lên ngọn lửa đời rất ấm”.

Cho dù dòng thời gian chảy trôi theo quy luật nghiệt ngã của nó có thể khiến nhiều thứ chìm vào lãng quên. Nhưng những vần thơ thấm đẫm tình đời, tình người của Nguyễn Trãi thì sẽ sống mãi trong trái tim của bao người. Sự nghiệp văn chương của ông góp vào dàn đồng ca văn học những tiếng đàn tuyệt diệu mãi ám ảnh, lưu luyến, vấn vương trong tâm hồn của bao người. Hình ảnh “Trán thi sĩ chạm mây” chỉ tư tưởng thanh cao, thoát tục, không màng danh lợi, phú quý. Ông luôn muốn từ bỏ chốn đua chen, thị phi để trở về thiên nhiên, với cỏ cây hoa lá để tìm sự thanh sạch cho tâm hồn. Nhưng trở về với thiên nhiên không có nghĩa là ông quay lưng với cuộc đời, rũ bỏ tất cả mọi thứ mà trái lại, thơ Nguyễn Trãi lúc nào cũng “cháy lên ngọn lửa đời rất ấm”. Trong sâu thẳm cõi lòng, ông luôn đau đáu hướng về cuộc đời, hướng về dân, về nước bằng một tình yêu tha thiết.

Dù cuộc đời bị bọn gian thần ghen ghét, ganh đua nhưng Nguyễn Trãi vẫn như đóa sen thanh cao, trong sạch nở giữa chốn bùn lầy. Nhà thơ như con ong cần mẫn bay lượn trong khu rừng để hút mật ngọt từ cảnh sắc thiên nhiên, cuộc đời để làm no nê cho thơ. Từng câu, từng chữ ngân vang, xuyên thấm vào tâm hồn người những cảm xúc dạt dào chảy mãi không thôi. Bằng những vần thơ sâu lắng, thi sĩ đã dẫn ta vào thế giới của cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp. Nơi bình yên, thanh tĩnh, nơi những tư tưởng thanh cao, thoát tục thăng hoa.

Tâm hồn Nguyễn Trãi chợt xao xuyến bởi những lời gọi thiết tha, giục giã của thiên nhiên Côn Sơn:

“Côn Sơn suối chảy rì rầm

Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai

Côn Sơn có đá rêu phơi

Ta ngồi trên đá như ngồi nệm êm

Trong rừng thông mọc như nêm

Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm

Trong rừng có bóng trúc râm

Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn”.

(Côn Sơn ca)

Trong cảm nhận của nhà thơ, cảnh vật hiện ra thật thơ mộng, trữ tình, thanh bình, yên ả. Với Ức Trai, suối là đàn, rêu là chiếu, bóng râm làm giường, bóng trúc là nơi ngâm thơ. Ông thả hồn vào thiên nhiên như người bạn tâm tình.

Trong những trang thơ, Nguyễn Trãi hiện lên với một phong thái ung dung, nhàn tản, vui với cảnh sống đơn sơ và mộc mạc, giản dị ở chốn thôn quê:

“Ao cạn vớt bèo cấy muống

Đìa thanh phát cỏ ương sen”

Hiện ra trước mắt chúng ta không phải là một công thần khanh tướng mà là một lão nông tri điền sớm chiều vác cuốc ra vườn để mà “cấy muống”, “ương sen”. Hai câu thơ gợi ta liên tưởng đến lối sống nhàn dật của Nguyễn Bỉnh Khiêm:

“Một mai, một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dù ai vui thú nào”

hay lối sống giản dị, thanh cao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm tháng gian khổ:

“Sáng ra bờ suối tối vào hang

Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng”

Nguyễn Trãi đã để trái tim mình hòa vào thiên nhiên, vui thú với cảnh sắc dân dã mà không vướng bận chuyện đời. Nguyễn Mộng Tuân từng viết về Nguyễn Trãi: Gió tây hây hẩy gác vàng… người như một ông tiên ngồi trong tòa ngọc. Cái tài hay làm đẹp cho đất nước từ xưa chưa có bao giờ”. Thật vậy, Nguyễn trãi như ông tiên ngồi trong lầu ngọc, thả hồn mình vào thiên nhiên, đón nhận thiên nhiên bằng tất cả tâm hồn. Ức Trai yêu thiên nhiên đến độ sợ làm bị thương cảnh vật. Ông nâng niu từng mảnh trăng muộn, từng cánh hoa tàn:

“Viện có hoa tàn chăng quét đất

Nước còn nguyệt hiện sá thôi chèo”

Về với ruộng vườn, với sông nước khói mây, thả mình vào thiên nhiên tạo vật nhưng Nguyễn Trãi không bao giờ quay lưng với cuộc sống. Thơ ông vẫn luôn bừng cháy một “ngọn lửa đời rất ấm”, luôn thường trực một tấm lòng âu lo cho dân, cho nước, cháy bỏng một khát khao làm cho đất nước thanh bình, cuộc sống của nhân dân giàu đủ. Ông mơ ước có cây Ngu cầm gảy lên khúc Nam phong cho cuộc sống của nhân dân được vui vầy, hạnh phúc:

” Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng

Dân giàu đủ khắp đòi phương”

Trong khoảnh khắc ấy, Nguyễn Trãi bỗng hóa thành cây đàn họ Ngu, chỉ cần ngân lên là phép lạ sẽ rưới xuống muôn dân một trời mưa hạnh phúc. Đó là khát khao sâu kín và cháy bỏng suốt một đời của Nguyễn Trãi. Tấm lòng Nguyễn Trãi lúc nào cũng đau đáu hướng về đất nước, về nhân dân. Tấm lòng Nguyễn Trãi lúc nào cũng đau đáu hướng về đất nước, về nhân dân. Ông gọi đó là lòng ưu ái, lòng trung hiếu không lúc nào phôi phai được:

“Bui một tấc lòng ưu ái cũ

Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông”.

Cõi thơ Ức Trai luôn dào dạt một tấm lòng yêu đời tha thiết. Dù ở trong bất kì hoàn cảnh nào, ông vẫn tha thiết hướng đến cuộc đời, vẫn khát khao hòa nhập với cuộc sống. Ông viết trong bài thơ “Cảnh ngày hè” những vần thơ dào dạt sức sống:

“Lao xao chợ cá làng ngư phủ

Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”.

Tiếng “lao xao” chợ cá là âm thanh bình thường và gần gũi biết bao, nó gợi vẻ nhộn nhịp, náo nức của cuộc sống thường nhật. Nguyễn Trãi đang lắng nghe những âm thanh bình dị từ cuộc sống đủ thấy tâm hồn ông gần gũi, gắn bó với nhân dân biết chừng nào. Cái buồn bã thường thấy của lầu tịch dương như bị xua tan bởi cái réo rắt của tiếng cầm ve. Câu thơ gợi nhắc đến những vần thơ Tố Hữu:

“Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình”.

Nhắc đến Nguyễn Trãi là nhắc đến một trái tim suốt đời âu lo cho dân cho nước; nhắc đến tư tưởng nhân nghĩa với chiều sâu và tầm cao giá trị xuyên suốt mấy trăm năm; nhắc đến tình đời, tình người thiết tha, sâu nặng như Tố Hữu từng viết:

“Nghe hồn Nguyễn Trãi phiêu diêu

Tiếng gươm khua tiếng thơ kêu xé lòng”.

Oan án Lệ Chi Viên đã giết chết một thiên tài nhưng những gì ông để lại cho dân cho nước thì muôn đời bất tử. Con người ấy, hồn thơ ấy mãi mãi là cây đại thụ tỏa bóng mát cho ngàn sau. Nguyễn Trãi sẽ sống mãi trong lòng bạn đọc cũng như ngọn lửa đời đời mãi cháy trong thơ ông.

Trần Thị Đinh Huệ

THƠ TRƯỚC HẾT LÀ CUỘC ĐỜI, SAU ĐÓ MỚI LÀ NGHỆ THUẬT

Tran thi si cham may nhung trong ruot tho van chay len ngon lua doi rat am

(Bài làm của học sinh Đinh Thị Mĩ Huỳnh- Chuyên Lê Hồng Phong- TP Hồ Chí Minh).

            Những vần thơ Anđécxen, những vần thơ ngân vang từ thung lũng Oodenzơ, nơi có những hẻm núi sương giăng mờ ảo và những vòm hoa thạch thảo tim tím nên thơ đã gieo vào tâm hồn nhà văn Pauxtoopsxki niềm xúc cảm mãnh liệt: “Anđécxen đã lượm lặt hạt thơ trên luống đất của người dân cày, ấp ủ chúng nơi trái tim ông rồi gieo vào những túp lều, từ đó lớn lên và nảy nở những bó hoa thơ tuyệt đẹp, chúng an ủi trái tim những người cùng khổ”. Thơ ca, hai chữ kì diệu mà muôn đời vẫn chưa tìm ra một định nghĩa trọn vẹn, hoàn chỉnh. Thơ là gì? Thơ bắt nguồn từ đâu? Thơ có mãnh lực gì khiến cung đàn cảm xúc của triệu triệu con người trên trái đất này không ngừng lay động thổn thức xuyến xao? Phải chăng “thơ” ở đây như trong lời bình của nhà văn học Nga V.Bêlinxki vào thế kỉ mười chín: “Thơ trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật”.

            Từ thủa thơ ca xuất hiện mang đến hơi thở ấm áp cho hành tinh xanh xanh những đại dương và điệp trùng những cánh rừng tươi thắm của chúng ta, có thể nói chưa bao giờ tổng kết được những định nghĩa về thơ. Có người cho thơ là “lơ tơ mơ”, “thơ là sự tuôn trào bột phát những tình cảm mãnh liệt”, thậm chí “thơ là một cái gì mà người ta không định nghĩa được”. Phải chăng vì thế mà thơ thuộc về cõi huyền nhiệm, mông lung, xa vời vợi? Không, theo quan niệm của Bêlinxki, chữ “cuộc đời” như một vì sao được chiếc đòn bẩy “trước hết” bật vào từ thơ, làm sáng lên một ánh lung linh, rạng rỡ. Thơ ca bắt nguồn từ cuộc sống.

            Cuộc sống bao giờ cũng là nguồn cảm hứng mênh mông bất tận của những tâm hồn nghệ sĩ. Thơ ca cũng như văn chương và các loại hình nghệ thuật khác, nếu không bám rễ vào cuộc đời, nếu không hút nguồn nhựa sống dạt dào ngầm chảy trong lòng cuộc sống thì nó sẽ mãi mãi là một cây non èo uột, không mang trên mình những cành cây săn chắc, những phiến lá xanh tươi phơi phới dưới ánh nắng mặt trời. Là nhà thơ, ngòi bút của anh phải chấm vào nghiên mực cuộc đời thì thơ anh mới tươi màu neo chặt trong bến tâm hồn người thưởng thức. Anh sĩ Lê Quý Đôn từng nói: “Trong bụng không có ba vạn quyển sách, trong mắt không có cảnh núi non kì lạ của thiên hạ thì không thể làm thơ được”. Có thể nói cuộc đời là mạch sữa ngọt ngào tuôn chảy không ngừng từ thế hệ này sang thế hệ khác để nuôi dưỡng thi ca. Đến với Chế Lan Viên, một “triết gia thi sĩ”, ta không quên giây phút con người ấy rơi vào hố sâu tuyệt vọng của sự chán chường:

“Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh

Một vì sao trơ trọi giữa trời xa

Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh

Những ưu phiền, đau khổ với buồn lo”.

            Thế mà cuộc sống mới chan hòa hơi thở nồng ấm của cách mạng đã làm tan mọi băng giá trong trái tim thi sĩ. Người sà vào lòng nhân dân, sung sướng đón nhận nguồn cảm hứng thi ca từ cuộc đời:

“Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ

Cỏ đón giêng hai chim én gặp mùa

Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa

Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa”

                     (Tiếng hát con tàu-Chế Lan Viên)

            Cuộc sống mênh mông và kì diệu làm sao! Cuộc sống là nơi cung cấp chất liệu cho thơ. Thơ ca bắt nguồn từ cuộc sống, cho nên thơ bao giờ cũng chứa đựng bóng hình cuộc sống, bóng hình con người. Thơ ca là nơi con người gửi gắm tâm tình, ước mơ, khát vọng, những băn khoăn, rạo rực, ưu tư. Thơ ca không thể tách rời cuộc đời. Cuộc đời ban truyền nguồn nhựa sống mãnh liệt cho thơ và thơ nở hoa làm đẹp cuộc đời, cống hiến cho con người những phút giây tuyệt vời lắng đọng nhiều nỗi suy tư. Đến với thơ, người đọc trước hết sẽ bắt gặp tâm tư, nỗi lòng của người cầm bút, sau đó sẽ gặp chính tâm tư của mình bởi thơ là “tiếng nói đồng ý, đồng tình, đồng chí”. Cùng với văn chương, thơ ca trở nên những nhịp cầu vô hình dẫn dắt những tâm hồn đến với tâm hồn đến với trái tim để con người cùng sẻ niềm vui, nỗi buồn, ước mơ, hy vọng.

            Cuộc đời vốn bao la, vô tận kia như một bức tranh với ba chiều không gian trải dài đến vô cùng. Nhà thơ cũng như những con ong cần mẫn bay lượn trong khu vườn cuộc đời ấy:

“Nhà thơ như con ong biến trăm hoa thành một mật

Một mật ngọt thành, đời vạn chuyến ong bay”

                                    (Chế Lan Viên)

            Thơ ca “là cuộc đời”, nhưng thơ ca không phải là những trang giấy in nguyên vẹn bóng hình của cuộc đời rộng lớn. Người nghệ sĩ phải tìm đến cuộc đời để hút lấy chất mật tinh túy nhất, ngọt ngào nhất để tạo nên những vần thơ thật sự có giá trị. Nhà thơ phải biết chắt lọc chất liệu mà cuộc đời cung cấp, từ đó mới tạo nên những vần thơ hay, làm rung động lòng người đọc. Thi ca gắn liền với cảm xúc. Nhà thơ không thể hiện cuộc đời qua những tình huống, qua những sự kiện như các nhà văn. Nhà thơ giãi bày bằng cảm xúc, bằng ngôn ngữ thi ca, bằng cả “khoảng trắng giữa các ngôn từ”. Thơ ca có giá trị không tách rời sự thoát li, tách rời khỏi cuộc sống, cũng như sự photocoppy cuộc sống một cách cứng nhắc, khuôn mẫu. Đọc thơ mà chẳng tìm thấy nỗi lòng nhà thơ, đấy chẳng phải là thơ ca đích thực! Nếu không có một thiên tài Nguyễn Du uyên bác, ta không thể có “Truyện Kiều”. Nhưng nếu không có những lầm than cơ cực, đắng cay, tủi nhục cùng với những ước mơ cháy bỏng của nhân dân trong xã hội phong kiến, trong buổi suy vong đầy ngột ngạt, ta cũng không thể có những trang Kiều thấm đượm dòng lệ đầy chất nhân bản sâu xa.

            Nếu không có một vùng quê Kinh Bắc êm ả, bình dị với những con người chăm chỉ, hiền hòa, mãi mãi ta không thể nào có được nỗi nhớ rạo rực thiết tha của thi sĩ Hoàng Cầm trong bài “Bên kia sông Đuống”:

Em ơi buồn làm chi

Anh đưa em về bên kia sống Đuống

Ngày xưa cát trắng phẳng lì

…Xanh xanh bãi mía bờ dâu

Ngô khoai biêng biếc

Đứng bên này sông sao nuối tiếc

Sao xót xa như rụng bàn tay”.

            Thơ bao giờ cũng in đậm chữ “đời” trước hết. Cuộc đời không chỉ ban cho nhà thơ nguồn cảm hứng mà cuộc đời còn là nơi khai thác “chất quặng” nguồn từ để tạo nên thơ:

“Vạt áo của nhà thơ không bọc hết bạc vàng mà cuộc đời rơi vãi

Hãy nhặt lấy chữ của đời mà góp nên trang”

(Chế Lan Viên)

            Thơ ca là hoa thơm của cuộc đời. Nếu chỉ được kiến tạo từ trí tưởng tượng và “cái tôi” nhỏ bé của người nghệ sĩ, thơ ca chỉ là những bông hoa làm bằng “vỏ bào” (Pauxtopki). Nhà thơ phải nhặt những hạt “bụi quý” trong cuộc đời mênh mông vô tận để làm nên những “bông hồng vàng” quý giá, đem lại niềm vui và cái đẹp cho tâm hồn người đọc thơ, hiểu thơ và yêu thơ, theo cách diễn đạt của Pauxtôpxki.

            Trở lại câu nói của nhà phê bình Bêlinxki, ta thấy đó không phải là cái nhìn phiến diện. “Thơ trước hết là cuộc đời” nhưng cuộc đời chưa phải là tất cả. BêlBeelki rời phím nhấn “cuộc đời” ấn tay vào phím cạnh bên “nghệ thuật”. Như vậy BêlBeelki đã không phủ nhậ vai trò quan trọng của yếu tố làm nên thi ca này. Thiếu nghệ thuật, thơ chỉ còn là hòn ngọc thô không mài không giũa, không thể khơi dậy trong trái tim con người những rung động sâu xa. Thơ có thể ví như cánh diều bay bổng trên bầu trời cao rộng, nâng cảm xúc đến mức thăng hoa. Ta yêu “Truyện Kiều” đâu phải chỉ vì “đoạn trường tân thanh” xé ruột cất lên từ quãng đời mười lăm năm lưu lạc truân chuyên của cánh hoa Thúy Kiều tài sắc. Người Việt Nam yêu “Truyện Kiều” vì những “ngôn ngữ gấm hoa” giàu sức biểu cảm, vì âm hưởng ca dao dịu dàng, man mác trong lục bát thân thương:

“Long lay đáy nước in trời

Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng”

            Cảnh mùa thu long lanh, mĩ lệ đọng đầy chất thơ ấy có lẽ còn sống mãi trong lòng người dân đất Việt đến nhiều thế kỉ mai sau.

            Thơ cất lên từ biển cuộc đời và bay cao từ nguồn gió nghệ thuật. Nghệ thuật làm cho thơ trở nên đẹp đẽ, gieo vào dòng người đọc những cảm xúc thẩm mĩ tuyệt vời. Một nhà thơ tài năng phải là một người thợ lặn lành nghề lặn sâu vào đại dương cuộc sống, không phải để nhặt nhạnh mảnh san hô tầm thường mà để tìm những viên ngọc trai lấp lánh những “khối tình con” kết từ máu huyết của loài trai nhẫn nại, cần cù (một ý của Nguyễn Tuân trong tác phẩm “Người lái đò sông Đà”). Nhà thơ chỉ cần rung động trước lớp sóng của cuộc đời thôi ư? Chưa đủ, như thế anh chỉ có cái tâm mà chưa có cái tài để xứng đáng mang danh hiệu “thi sĩ”.

            Để viết nên những vần thơ có sức lay động thực sự, có khả năng vượt qua mọi định luật băng hoại của thời gian không thừa nhận cái chết (Sa tư khốp Sê đrin), nhà thơ phải vừa có tài năng và tâm huyết, vừa đắm mình vào cuộc đời, vừa không ngừng tìm tòi khám phá, “khơi những nguồn chưa ai khơi”. Một nhà thơ nước ngoài đã từng thấm thía giá trị cao quý của lao động thi ca:

“Phí tổn ngàn cân quặng chữ

Để thu về một chữ mà thôi

Những chữ ấy làm cho rung động

Triệu trái tim trong hàng triệu năm dài”.

            Nhà thơ phải “trả giá cắt cổ” cho ngôn ngữ thơ ca nếu muốn những vần thơ ấy trở nên bất tử. Lao động nghệ thuật là hình thức lao động của trí óc và trái tim. Phải có những rung động mãnh liệt trước cuộc đời và những khám phá, sáng tạo độc đáo ta mới có thơ ca chân chính.

            Viết về mùa thu, thi sĩ từ cổ chí kim đã dùng bao hình ảnh tuyệt đẹp, từ “Ngô đồng nhất diệp lạc” đến “cúc vàng lưng giậu” từ “non phơi bóng vàng” đến “trăng sáng như gương” … Thế mà cậu bé Trần Đăng Khoa lại cảm nhận mùa thu theo một cách riêng qua hình ảnh hoa cau giản dị:

“Nửa đêm nghe ếch học bài

Lưa thưa vài hạt mưa ngoài hàng cây

Nghe trời trở gió heo may

Sáng ra vại nước rụng đầy hoa cau”

                                  (Hoa cau)

            Những cánh hoa cau trắng muốt mỏng manh tụng đầy vại nước làng quê phải chăng là “hoa cau cuộc đời” hóa thành “hoa cau nghệ thuật” trong thế giới thơ phong phú đầy tưởng tượng bay bổng của nhà thơ tí hon dễ yêu, dễ mến? Hoa cau thoang thoảng thơm mãi con đường thi ca trải rộng, quấn quýt êm đềm trong trái tim những người yêu thơ…

            “Thơ trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật”. Ý kiến của Bêlinxki thật xúc động và đầy giá trị! Đến với thơ nghĩa là ta đến với cuộc đời qua lăng kính nghệ thuật của nhà thơ. Thơ ca khơi dậy trong lòng ta lớp lớp những đợt sóng cuộn trào và muôn vàn cung bậc tình cảm: yêu thương, căm giận, xót xa, nghẹn ngào, xao xuyến, bâng khuâng, …bởi thơ là đời, thơ là hoa nảy nở từ mảnh đất cuộc đời dào dạt nhựa sống. Thơ không phải là thứ tôn giáo cao siêu huyền bí cũng không phải là những ghi chép tủn mủn, vặt vãnh vô giá trị về cuộc đời, về con người quanh ta. Thi sĩ không thể làm nên thơ nếu cửa lòng đóng khép, nếu không “mở hồn ra đón lấy tất cả những vang động của đời” (Nam Cao). Cuộc sống cuộn xoay không một giây dừng lại, thơ ca cũng không ngừng nảy nở sinh sôi, cống hiến cho đời những đóa hoa đẹp nhất.

            Thi sĩ ơi, anh hãy sáng tác bằng cả nhiệt huyết và tình yêu cháy bỏng của trái tim mình.

Cuộc sống đánh vào thơ trăm ngàn lớp sóng

Chớ ngồi trong phòng ăn bọt bể anh ơi!

                             (Chế Lan Viên)

            Bắt nguồn từ cuộc sống, qua lăng kính cảm nhận của thi nhân, thơ ca lại trở về với đời, tạo dòng chảy trong trái tim người thưởng thức. Thơ ca mang đến cho con người những gì? Thơ ca phải chăng chỉ để giết thời gian hoặc làm cho người ta bị mê hoặc? Thơ ca chân chính không phải là một loại hình nghệ thuật mang tính chất giải trí đơn thuần. Song hành cùng người bạn cốt văn chương, thơ ca mở ra những ngả đường hướng triệu triệu con người tới cõi chân-thiện-mĩ. Thơ ca đích thực phải là thơ ca khơi dậy những rung động sâu sắc trong tâm hồn con người, làm phong phú thế giới cảm xúc của con người, khiến con người vươn tới ước mơ sống tốt hơn, đẹp hơn. Nhà thơ Thanh Hải đến phút cuối đời trên giường bệnh vẫn khát khao cống hiến cho đời những giọt xuân trong trẻo:

Ta làm con chim hót

Ta làm một cành hoa

Ta nhập vào hòa ca

Một nốt trầm xao xuyến

                  (Mùa xuân nho nhỏ)

            Làm sao lòng ta không rạo rực trước sức sống mãnh liệt, dạt dào của một nhà thơ yêu đời, yêu người tha thiết đến nhường ấy! Nhà thơ đã vượt qua chính mình để làm một nốt trầm lặng lẽ. Mình có ích giữa muôn vàn âm thanh sôi động của cuộc đời muôn màu, muôn vẻ này chưa?

            Thơ ca khơi dậy trong con người những cảm xúc thẩm mĩ tuyệt đẹp, “thanh lọc” tâm hồn con người, chắp cánh cho con người bay tới những ước mơ, khát vọng. Trên cõi hành trình dài đằng đẵng đầy chông gai của đời người, có những lúc dừng chân ngơi nghỉ, ta không thể không nghĩ về cuộc đời, về những điều tốt đẹp. Bao giờ ta còn đồng cảm với tấm lòng thi nhân, khi ấy thơ ca vẫn còn tồn tại sức sống bất diệt, vĩnh cửu.

            Andecxen không chỉ là bậc thần tiên tạo nên những trang cổ tích làm say mê biết bao thế hệ con người mà còn là nhà thơ chân chính mà “thơ của ông làm no nê trái tim người dân chẳng khác gì triệu triệu những hạt bụi nước li ti làm bão hòa không khí trên đất đai Đan Mạch. Người nói vì thế mà không ở đâu có cầu vồng rộng lớn và rạo rực như ở nơi này” (Pauxtopxki).

            Thơ ca thật kì diệu và đáng quý! Đã là thi sĩ, một khi cầm bút, anh không được phép phân biệt giữa mình và người, mà phải “viết hết mình cho người” (Tố Hữu). Có như thế thơ ca của anh mới sống mãi mãi với cõi đời này.

            Thơ là cuộc đời cho nên thơ không chỉ khơi dậy những cảm xúc êm đềm, dịu dàng, êm ái; không chỉ làm lòng ta quặn đau trước những nỗi “đoạn trường”. Thơ ca đồng thời phải mang chức năng “thức tỉnh lương tri đang ngủ” (Eptusenco), phải khiến con người biết căm giận và biết ước mơ. Có những lúc thơ ca biến thành vũ khí độc đáo giúp con người đấu tranh với cái ác để bảo vệ chính nghĩa và cái đẹp của cuộc đời. Đấy là giây phút Hồ Chí Minh gửi gắm niềm tin mãnh liệt vào những vần thơ mà xích xiềng không khóa nổi:

Ví đâu có cảnh đông tàn

Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân

Nghĩ mình trong bước gian truân

Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng.

            Ngược dòng thời gian, ta còn thấy đó là giây phút Lí Thường Kiệt cất tiếng sang sảng đọc tuyên ngôn Nam quốc sơn hà khẳng định chủ quyền độc lập của non sông. Giá trị của thơ ca mới cao cả đến nhường nào!

            Trở về với hiện tại thơ ca hôm nay, ta bắt gặp những dáng hình thi sĩ trên những ngả đường thơ trải rộng, đang từng bước khám phá, tìm tòi và sáng tạo, đem lại nguồn mới cho thi ca. Phải chăng họ đang đặt chân lên hành trình đến với “Mảnh đất nở hoa dâng tặng người muốn hái”?

            Thi sĩ ơi, dù phải theo ngả nào, có lẽ anh cũng nên tâm niệm: “Thơ trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật”.

            Ý kiến về thơ của nhà phê bình văn học Nga. V.Bêlinxki quả thật đáng để chúng ta suy nghĩ và nghiền ngẫm. Thơ đâu phải là quả bóng bay xa vời vợi nằm ngoài tầm bắt. Thơ ca luôn nồng nàn, ấm áp hơi thở cuộc đời và mang dấu ấn sáng tạo nghệ thuật của người cầm bút. Thơ là dòng sông soi bóng cuộc đời, len vào tâm hồn con người những mạch nguồn cảm xúc dạt dào chảy mãi không thôi. Nhà thơ phải “yêu cuộc đời” và con người.

            Ngày xưa, tôi yêu văn thơ Anđecxen bởi nơi ấy bao giờ cũng rung rinh đóa hồng bạch tỏa hương ngào ngạt bên những nàng công chúa xinh tươi. Nay tôi lại càng say mê những dòng văn đầy nhân ái kia bởi tôi còn cảm nhận được hương vị của cuộc đời, “chất người” ủ kín bên trong.

                                Đinh Thị Mĩ Huỳnh- Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong TP HCM