ĐÁP ÁN CUỘC THI ONLINE “AN TOÀN GIAO THÔNG CHO NỤ CƯỜI NGÀY MAI” DÀNH CHO GIÁO VIÊN THCS, THPT

Cuộc thi online "An toàn giao thông cho nụ cười ngày mai"

Phần thi trắc nghiệm

Câu 1- chọn đáp án D

Câu 2- chọn đáp án D

Câu 3- Chọn đáp án C

Câu 4- Chọn đáp án D

Câu 5- Chọn đáp án A

Câu 6- Chọn đáp án C

Câu 7- Chọn đáp án C

Câu 8- Chọn đáp án D

Câu 9- Chọn đáp án B

Câu 10- Chọn đáp án C

Phần thi tự luận-Làm thành file đính kèm, nội dung như sau:

Kế hoạch giảng dạy nội dung giáo dục an toàn giao thông

1. Mục tiêu

– Tuyên truyền sâu rộng các quy định an toàn giao thông đến mọi người, đặc biệt là các em học sinh.

– Nâng cao ý thức chấp hành luật giao thông của toàn thể học sinh trong nhà trường.

– Giáo dục học sinh các em nhận thức đúng, nghiêm chỉnh chấp hành luật giao thông để bảo vệ cho sức khỏe của bản thân và những người khác.

– Hạn chế vi phạm luật giao thông, tránh xảy ra tình trạng ùn tắc giao thông khu vực cổng trường.

2. Yêu cầu cần đạt

– Cả giáo viên và học sinh đều phải xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục an toàn giao thông.

– Giáo viên và học sinh phải nghiêm túc thực hiện, chấp hành luật an toàn giao thông.

– Có ý thức tham gia giao thông văn minh, lịch sự, tuyên truyền đến mọi người về luật an toàn giao thông, cũng như văn hóa tham gia giao thông văn minh.

3. Đối tượng tham gia

– Chủ yếu là giáo viên, học sinh và phụ huynh học sinh.

4. Nội dung tuyên truyền giáo dục

– Tuyên truyền về cách đi bộ an toàn.

– Đi xe đạp điện, xe máy, xe gắn máy an toàn.

– Tuyên truyền luật giao thông.

– Đội mũ bảo hiểm khi ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện, xe đạp điện.

– Nhận biết một số biển báo thường gặp trong giao thông.

– Quy định xử phạt sai phạm khi tham gia giao thông.

– HS cam kết thực hiện và chia sẻ với những người thân trong gia đình về các kiến thức, kĩ năng an toàn giao thông đã được học.

5. Hình thức tuyên truyền giáo dục

– Thông qua buổi họp phụ huynh, tuyên truyền đến phụ huynh học sinh, phối hợp giữa giáo viên và phụ huynh cùng nhau giáo dục con em chấp hành luật giao thông.

– Tuyên truyền thông qua các buổi sinh hoạt lớp, sinh hoạt chuyên đề.

– Tạo điều kiện, không gian cho học sinh thực hành ngay tại trường học, dưới sự tham gia hướng dẫn của giáo viên.

– Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu an toàn giao thông, siu tầm, thiết kế tranh, ảnh theo chủ đề an toàn giao thông.

– Tuyên truyền trực quan thông qua: áp phích, băng rôn, tờ rơi, khẩu hiệu, Website của lớp, của trường.

– Thông qua hệ thống phát thanh của nhà trường, phổ biến nội dung luật giao thông và các quy tắc tham gia giao thông an toàn đến học sinh.

– Tích hợp an toàn giao thông trong các môn học chuyên môn.

– Thường xuyên nhắc nhở học sinh thực hiện quy định về ATGT, qua học sinh tuyên truyền đến cha mẹ học sinh.

– Kiểm tra, đánh giá, nhắc nhở, đôn đốc thực hiện các em học sinh. Khen thưởng đối với những tấm gương có ý thức thực hiện, chấp hành tốt.

Câu 2. Trong những năm qua, thầy/cô đã lựa chọn những hình thức nào để giáo dục an toàn giao thông, hình thức giáo dục nào thầy/cô đánh giá là hiệu quả? Vì sao?

Trả lời:

Để giáo dục học sinh được tốt nhất cần phối kết hợp tất cả các hình thức tuyên truyền, giúp các em tiếp cận vấn đề qua nhiều hướng khác nhau, phù hợp với năng lực của từng em học sinh.

Mỗi hình thức đều có giá trị nhất định, rèn luyện, cung cấp kiến thức, kĩ năng về an toàn giao thông cho các em học sinh.

Các hình thức giáo dục an toàn giao thông đem lại hiệu quả hơn cả, đã được tôi áp dụng là:

(1) Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu an toàn giao thông, siu tầm, thiết kế tranh, ảnh theo chủ đề an toàn giao thông

Vì:

– Học sinh được chủ động sáng tạo, tự tìm hiểu kiến thức về an toàn giao thông.

– Rèn luyện kĩ năng tự học, kĩ năng làm việc nhóm cho học sinh.

– Học sinh được thoải mái sáng tạo, tiếp nhận kiến thức, kĩ năng tự nhiên, không khuôn mẫu, gò bó kích thích hứng thú tìm hiểu cho học sinh.

– Đây là hình thức mà các em có thể tự truyên truyền cho nhau, giáo dục cho bản thân và những người xung quanh.

(2) Để học sinh trực tiếp thực hành, trải nghiệm tại khu vực sân trường dưới sự hướng dẫn giám sát của giáo viên

Vì:

– Giúp học sinh được trải nghiệm thực tế, có cái nhìn chân thật, khách quan nhất → Khắc sâu kiến thức.

– Đem lại trải nghiệm thú vị, tạo hứng thú học tập.

(3) Tuyên truyền giáo dục thông qua các buổi sinh hoạt chuyên đề

Vì: Đem lại cho các em học sinh lượng kiến thức đầy đủ nhất, chi tiết nhất.

(4) Phối hợp với cha mẹ học sinh

Vì: Để giáo dục học sinh tốt nhất cần có sự phối kết hợp giữa gia đình và nhà trường. Thầy cô, cha mẹ nghiêm túc chấp hành luật giao thông thì con em mình cũng lấy làm gương noi theo.

CÁCH VIẾT ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

1. Kiến thức cơ bản

Đoạn văn là đơn vị trực tiếp cấu tạo thành văn bản, diễn đạt một nội dung nhất định. Hình thức được mở đầu bằng việc lùi đầu dòng, kết thúc chấm và ngắt đoạn. Nội dung của đoạn văn phù hợp, hoàn chỉnh trọn vẹn ý. Những thành phần, đơn vị khác trong đoạn văn không phải lúc nào cũng có sự hoàn chỉnh về nội dung.

Câu chủ đề: là câu bao chứa trọn vẹn nội dung chính của đoạn văn, câu có hình thức ngắn gọn, đầy đủ thành phần chính, có thể đứng ở đầu hoặc cuối câu.

Từ ngữ chủ đề: là các từ ngữ được dùng làm đề mục hoặc các từ ngữ được lặp đi lặp lại nhiều lần nhằm duy trì đối tượng biểu đạt.

Các kiểu đoạn văn thường sử dụng trong văn bản:

+Đoạn văn diễn dịch,

+ Đoạn văn quy nạp,

+ Đoạn văn song hành,

+ Đoạn văn móc xích,

+ Đoạn văn tổng phân hợp,

+ Đoạn văn nêu phản đề,

+ Đoạn văn so sánh,

+ Đoạn văn phân tích nhân quả,

+ Đoạn văn vấn đáp.

2. Cấu trúc chung khi viết đoạn văn nghị luận xã hội

  • Bước 1: Xây dựng câu mở đoạn

Câu mở đoạn: thường chỉ được dùng một câu (câu tổng hợp-chứa đựng thông tin của đề thi yêu cầu. Câu này mang tính khái quát cao).

  • Bước 2: Xây dựng thân đoạn

* Giải thích các cụm từ khóa, giải thích các thuật ngữ (giải thích nghĩa đen, nghĩa bóng, cần ngắn gọn, đơn giản).

* Bàn luận:

+ Đặt ra các câu hỏi và trả lời:

Vì sao?

Biểu hiện như thế nào?

Ý nghĩa của vấn đề đó đối với cuộc sống và con người?

Tác động hoặc tác hại của vấn đề nghị luận đối với cuộc sống và con người?

+ Sau đó bình luận, chứng minh từng ý lớn (có thể chọn theo các mô típ viết từ: gia đình, nhà trường, xã hội hoặc trong học tập, lao động, sinh hoạt hằng ngày…).

+ Đưa ra dẫn chứng phù hợp, ngắn gọn, chính xác (tuyệt đối không kể chuyện dông dài, tán gẫu, sáo rỗng, có thể đưa dẫn chứng thực tế, dẫn chứng văn học).

+ Trong quá trình phân tích dẫn chứng có thể lồng cảm nghĩ, đánh giá liên hệ.

* Bàn luận mở rộng: bàn luận phản đề hoặc mở rộng vấn đề- đồng tình hoặc không đồng tình.

* Bài học nhận thức và hành động cho bản thân, mọi người.

– Bước 3: Viết kết đoạn

Khái quát lại giá trị của vấn đề nghị luận, rút ra bài học.

3. Luyện tập

Đề bài: Bàn về vai trò và tác dụng to lớn của sách trong đời sống tinh thần của con người, nhà văn M. Go-rơ-ki có viết: “Sách mở rộng trước mắt tôi những chân trời mới”. Hãy giải thích và bình luận ý kiến trên.

a/ Xác định luận đề

Bài văn cần làm sáng tỏ vấn đề gì? Quan điểm của chúng ta về vấn đề đó như thế nào?

b/ Xác định các luận điểm

Căn cứ vào đề bài, vào yêu cầu của bài văn và huy động những hiểu biết của mình, anh (chị) hãy suy nghĩ và trả lời các câu hỏi sau đây:

  • Sách là gì?
  • Sách có tác dụng như thế nào?
  • Thái độ đối với sách và việc đọc sách như thế nào?

c/ Tìm luận cứ cho các luận điểm

Hãy lần lượt trả lời các câu hỏi sau đây:

  • Đối với luận điểm 1 (Sách là sản phẩm tinh thần kì diệu của con người):

+ Sách là sản phẩm thuộc lĩnh vực nào của con người?

+ Sách phản ánh, lưu giữ những thành tựu gì của nhân loại?

+ Sách có chịu ảnh hưởng của thời gian và không gian không?

  • Đối với luận điểm 2 (Sách mở rộng những chân trời mới):

+ Sách đem lại cho con người những hiểu biết gì về tự nhiên và xã hội?

+ Sách có tác dụng như thế nào đối với cuộc sống riêng tư và quá trình tự hoàn thiện mình?

  • Đối với luận điểm 3: (Cần có thái độ đúng đối với sách và việc đọc sách):

+ Thái độ của anh chị đối với các loại sách?

+ Đọc sách như thế nào là tốt nhất?